Từ cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa một nữ du kích năm xưa với con trai cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đến hành trình đoàn tụ đầy nước mắt của một gia đình sau nhiều năm ly tán, tất cả đều cho thấy: chiến tranh để lại những vết thương sâu sắc và hòa bình đã mở ra cơ hội để con người thấu hiểu, bao dung và hàn gắn quá khứ.
Vào một ngày cuối tháng 3/2025, một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa nữ dũng sĩ bắn tỉa với ông Robert Craig McNamara, con trai cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara (1916-2009). Mc Namara là tác giả của hàng rào điện tử mang tên ông ta nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc.
Nữ dũng sĩ đó là bà Hoàng Thị Chẩm, 76 tuổi, sống ở làng Xuân Long, xã Trung Hải, tỉnh Quảng Trị, nay thuộc xã Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, gần đoạn cuối sông Cánh Hòm khi chảy về Gio Linh. Năm 16 tuổi, bà Chẩm là du kích, rồi thành nữ chiến sĩ bắn tỉa thiện xạ ở khu vực hàng rào điện tử McNamara. Với những thành tích trong chiến đấu nên năm 1973, Chủ tịch Cuba Phidel Castro sang thăm Việt Nam, sau khi đến thăm Cao điểm 241, ra Gio Linh, bà Chẩm vinh dự được gặp và được vị Lãnh tụ Cuba bắt tay khen ngợi, Đó là niềm vui lớn của đời bà.
Những ngày tháng 4 , dưới mái hiên nhà, bà Chẩm kể lại câu chuyện về cuộc gặp gỡ bấy ngờ ấy. Ông Robert Craig McNamara cùng vợ đến nhà thăm bà Chẩm rồi chụp ảnh lưu niệm và cùng đi thăm chiến trường xưa. Cuộc gặp gỡ trong hòa bình và câu chuyện đều hướng đến hòa bình
Bà Chẩm có hỏi con trai cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ rằng, vì sao ông ấy không nối nghiệp cha mình. Ông ấy đã trả lời không thể theo bước cha, cha ông ấy và rất nhiều người đã nợ Việt Nam một món nợ quá lớn mà người sau phải trả. Robert Craig McNamara theo con đường khác, làm một nhà nông học và đang góp một phần nhỏ vào công cuộc rà phá bom mìn ở tỉnh Quảng Trị. Bà Hoàng Thị Chẩm tâm sự, chiến tranh đã lùi xa, câu chuyện bây giờ là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai:
“Ông ấy có hỏi rằng, cha ông nợ máu như vậy nhưng bà có căm thù không. Tôi trả lời lúc đó dù người Mỹ hay người Việt Nam đã là người lính thì bắt buộc thôi, cầm súng ra giữa trận tuyến mình không bắn họ thì họ cũng bắn mình. Bây giờ đã hòa bình rồi, được sống hòa hợp với nhau, đoàn tụ, gặp nhau rất vui vẻ, cùng nhau khắc phục hậu quả chiến tranh”.
Giữa những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, câu chuyện chia ly và đoàn tụ gia đình của ông Trần Phúc Hàng, người lính già nay đã bước sang tuổi 83, sống tại thôn Kinh Duy, xã Vĩnh Định, tỉnh Quảng Trị cho thấy giá trị của hòa bình lớn lao thế nào. Những năm 1960, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, ông Hàng là Xã đội phó xã Hải Xuân (nay là Vĩnh Định). Công việc của ông không chỉ là hậu cần mà còn nắm bắt tình hình địch: từ lực lượng, hỏa lực đến quy luật hoạt động. Những thông tin ấy trở thành “mắt xích sống còn” giúp bộ đội chủ lực xây dựng kế hoạch tác chiến. Ông cũng là người trực tiếp dẫn đường cho nhiều đơn vị vào trận.
Tháng 7/1968, chiến sự tại địa phương trở nên căng thẳng. Ông Hàng tham gia liên tiếp nhiều trận đánh. Giữa bom đạn, ông nhiều lần bị địch bắt rồi thả, nhưng vẫn kiên cường bám trụ. Đến năm 1968, ông bị bắt giam, trải qua nhiều nhà tù khét tiếng như Quy Nhơn, Biên Hòa, Phú Quốc – những nơi được ví như “địa ngục trần gian”.
Ít ai biết rằng, phía sau người lính ấy là một câu chuyện riêng đầy day dứt. Ông lập gia đình năm 1966, khi hoạt động cách mạng vẫn còn trong vòng bí mật. Đến năm 1967, ông công khai hoạt động cách mạng. Chiến tranh buộc ông phải cắt đứt liên lạc với gia đình, để lại người vợ trẻ và đứa con trai nhỏ trong cảnh chờ đợi mòn mỏi. Ngày 30/5/1968 (tức mùng 1/6 âm lịch), ông hẹn gặp vợ. Hai người định cùng trở về nhà thắp nén hương lên bàn thờ tổ tiên, như một lời từ biệt không dám hẹn ngày về. Nhưng khi vừa bước ra khỏi cửa, pháo địch dội xuống dữ dội. Ông buộc phải quay lại đơn vị, còn vợ ông vội vã chạy về lo cho con. Cuộc chia tay diễn ra vội vã, không một lời dặn dò. Ba ngày sau, ông Hàng bị bắt, nhiều đồng đội của ông đã hy sinh trong đợt ấy. Mười lăm ngày sau, ở quê nhà, vợ ông nhận tin chồng đã ngã xuống. Tin dữ khiến người phụ nữ trẻ ôm con sống trong nỗi đau và sự chờ đợi vô vọng.
Phải đến tháng 3/1973, sau Hiệp định Paris, ông mới được trao trả tù binh. Trong khi đó, vợ ông đã sơ tán ra vùng giải phóng ở Cam Lộ, Gio Linh. Cuối năm 1974, ông ra Quảng Bình, nơi tập trung nhiều chiến sĩ vừa được trả tự do. Giữa dòng người tìm thân nhân, ông bất ngờ nghe tin: vợ mình đã đi bước nữa. Tin đồn như một nhát cắt lạnh vào tim. Nhưng thay vì quay lưng, ông chọn cách tìm lại sự thật bởi vợ ông còn rất trẻ, cũng phải tìm một nơi nương tựa. Ông viết vội một mẩu giấy, nhờ người buôn nước mắm mang về quê: “Tôi còn sống, đang ở Cam Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Gia đình còn ai sẽ gặp”. Mẩu tin ngắn ngủi ấy vượt qua quãng đường dài, đến tay người vợ. Ba ngày sau, bà Nguyễn Thị Hường lặn lội ra Quảng Bình tìm chồng. Cuộc gặp lại sau bao năm tưởng như đã mất nhau mãi mãi diễn ra trong lặng im. Hai con người đứng nhìn nhau thật lâu, không nói nên lời. Bao nhiêu mất mát, hiểu lầm, chờ đợi dồn nén trong khoảnh khắc ấy. Nhưng rồi, chính ông Hàng đang mang nặng nỗi hoài nghi vì tin đồn lại buột miệng hỏi: “Em lấy chồng có được bao nhiêu người con rồi?”. Câu hỏi như giọt nước tràn ly. Người vợ bật khóc, nỗi tủi thân dồn nén suốt bao năm vỡ òa. Bà giận ông, khóc suốt một tuần liền, không nói chuyện. Câu chuyện đoàn tụ của ông Hàng, bà Hường thấm đẫm nước mắt, cả nước mắt chia ly và nước mắt hạnh phúc. Ở tuổi 83, ông Hàng vẫn cần mẫn, chu đáo chăm sóc vợ bị tai biến đang nằm liệt giường, không một chút than phiền. Tình yêu của vợ chồng ông vượt qua khói lửa chiến tranh đi đến ngày hòa bình, đoàn tụ. Ông Hàng kể lại câu chuyện gặp gỡ mà nước mắt rưng rưng:
“Tôi nghe nói vợ tôi đã lấy chồng rồi, lúc đó tôi cũng hơi vội vàng mà hỏi rằng, em bữa nay đã có mấy đứa con nữa rồi. Cuối cùng bà ấy không trả lời. Bà ở lại chỗ tôi một tuần và khóc suốt tuần liền. Cuối cùng bà ấy nói, mấy năm xa cách, bây giờ gặp lại anh mà anh hỏi tôi câu đó (giọng ông Hàng nghẹn ngào), tôi không trả lời được. 5 năm xa cách, giờ gặp được, tôi chỉ được tâm sự mà giờ anh hỏi câu đó thì tôi không trả lời, anh cứ về trong quê rồi thực tế sẽ trả lời...”
Trên những dòng sông, cánh đồng từng nhuốm màu bom đạn ở Quảng Trị, cuộc sống đang hồi sinh từng ngày. Những con người từng đứng ở hai phía chiến tuyến, hay những gia đình từng lạc mất nhau trong khói lửa, giờ đây cùng ngồi lại, kể cho nhau nghe câu chuyện của hòa bình. Đi qua khói lửa chiến tranh, điều còn lại không phải là hận thù mà là khát vọng được sống, được đoàn tụ và được cùng nhau vá lại những vết thương của chiến tranh, hướng đến hòa bình.
Thanh Hiếu/VOV Miền Trung
Bình luận