Có những vùng biển không chỉ hiện lên trên bản đồ, mà in sâu trong tâm trí con người. Với những người từng đi qua Hoàng Sa, hình ảnh ấy vẫn còn nguyên vẹn theo năm tháng. Năm 1973, khi mới ngoài 20 tuổi, ông Trần Hòa, quê huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cũ, nay là xã Nam Phước, thành phố Đà Nẵng, ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ chăm sóc y tế. Chuyến đi giữa mùa mưa bão, sóng gió dập dềnh, say sóng tưởng không trụ nổi. Nhưng khi đặt chân lên đảo, trước mắt ông Hòa không phải là núi đồi như tưởng tượng, mà là một dải cát trắng mênh mang. Những hàng cây bàng biển mọc thành rừng. Một ngôi chùa nhỏ, một nhà thờ, một trạm khí tượng lặng lẽ giữa trùng khơi. Cuộc sống khi ấy không thiếu thốn, nhưng nỗi nhớ nhà thì cứ âm ỉ trong lòng. Ông Trần Hòa nhớ nhất là tiếng chim cuốc mỗi buổi chiều, tiếng kêu buồn hiu hắt gợi nỗi nhớ nhà da diết.
Giữa đảo xa, những con người xa lạ vẫn nương tựa vào nhau, thậm chí cưu mang cả những người gặp nạn trôi dạt đến, không phân biệt người nước nào. Với ông Trần Hòa, Hoàng Sa không chỉ là nơi từng sống và làm việc, mà là một phần ký ức không thể tách rời, nơi in dấu tuổi trẻ và một phần máu thịt của Tổ quốc. Điều ông Trần Hòa vẫn còn tiếc nuối là những năm tháng ở Hoàng Sa, ông không kịp mang về cho mình một kỷ vật nào. Mãi sau này, một ngư dân Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tặng ông nắm cát mang về từ Hoàng Sa. Ông nâng niu, cất giữ "nắm cát Hoàng Sa" như tài sản quý nhưng trận lụt năm 2025 đã cuốn trôi mất rồi. Nhiều buổi chiều, nghe tiếng chim cuốc vọng lại, ông chợt sững người, cứ ngỡ mình vẫn còn ở ngoài đảo:
“Anh em nào đã từng đi Hoàng Sa hồi đó thì vẫn ước ao một ngày nào đó được trở lại. Nếu được một lần quay lại Hoàng Sa thì chắc chắn tôi sẽ khóc. Dẫu ai có nói gì đi nữa, chúng ta vẫn khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Và đừng bao giờ quên Hoàng Sa, bởi nơi đó cha ông mình đã từng gìn giữ.”
Ông Lê Lan ở phường Hội An, thành phố Đà Nẵng cũng đã 2 lần ra Hoàng Sa vào những năm 1971 và 1974, cũng với nhiệm vụ chăm sóc y tế. Ông Lê Lan nhắc lại những ngày tháng ấy như thể mọi thứ vẫn còn nguyên trước mắt. Ở đảo xa, công việc của người làm công tác y tế chủ yếu là sát trùng, thay băng, truyền nước, xử lý những ca bệnh trong điều kiện thiếu thốn. Có người đau nặng, phải chờ tàu gần một ngày mới được đưa về đất liền.
Cuộc sống trên đảo khắc nghiệt, bão gió quanh năm. Nhà cửa đổ mái bằng để hứng nước mưa, dẫn xuống hầm chứa làm nước uống. Chung quanh là rạn san hô, như một vòng chắn tự nhiên mỗi khi sóng lớn dâng lên. Mỗi lần biển động, cá bớp, cá cơm tấp vào bờ, anh em tranh thủ bắt về cải thiện bữa ăn. Rồi những mẻ rau câu chân vịt phơi khô, mọi người gói ghém mang về làm quà cho gia đình. Điều ông Lê Lan nhớ nhất không phải là gian khó, mà là những ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đảo, có bia mộ từ những năm 1930, nơi yên nghỉ của những người đã nằm lại vì bệnh tật, vì làm nhiệm vụ. Nhớ lại những tấm bia ấy, ông Lan nói: ai cũng hiểu rằng mình đang tiếp nối một phần việc dang dở của cha ông. Giọng ông Lê Lan chậm rãi kể chuyện Hoàng Sa.
“Tôi có một mong muốn rằng những ngày cuối đời, tôi được đi ra Hoàng Sa, tôi được ôm hôn mảnh đất của quê hương. Như vậy, nếu có nhắm mắt, tôi cũng thấy mãn nguyện. Tôi cũng mong muốn thế hệ trẻ hiểu rõ chủ quyền Hoàng Sa là của đất nước mình”.
Ông Nguyễn Văn Cúc, 78 tuổi, lớn lên bên biển Mỹ Khê, theo cha đi biển từ nhỏ. Năm 1973, ông có tới 3 lần ra đảo, khi thì khảo sát, khi mang vật liệu ra sửa lại hầm chứa nước cũ cho anh em trên đảo. Công việc làm hoàn toàn bằng tay nhưng với ông, đó là một phần tuổi trẻ không thể quên. Ông nhớ những ngày ở đảo, chim bay rợp trời, người và chim gần nhau đến lạ. Mỗi lần nhắc tới Hoàng Sa, ông Nguyễn Cúc chỉ mong được quay lại nơi này để nhìn thấy nơi có dấu chân mình năm xưa:
“Nói đến đảo Hoàng Sa thì tôi tự hào vì mình đã từng có mặt ở đó. Tôi sẽ kể lại cho con cháu nghe rằng người Việt Nam đã ra đảo, đã giữ đảo”.
Ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, biết bao thế hệ người dân trên đảo gắn liền với biển. Lớp cha ông truyền lửa cho con cháu tiếp tục vươn khơi. Giờ đây, ông Nguyễn Quốc Chinh không còn đủ sức khỏe theo những chuyến biển dài như trước. Nhưng mỗi buổi sớm, ông vẫn ra đứng ở cầu cảng, lặng lẽ nhìn theo từng con tàu rẽ nước ra khơi.
Ông Nguyễn Quốc Chinh nhắc lớp trai trẻ phải giữ nghề biển, phải bám biển như cha ông đã từng. Từ thuở những hùng binh Hoàng Sa mang theo thẻ bài ra đi, đến hôm nay, hành trình ấy chưa bao giờ dứt. Mỗi con tàu vươn khơi, lá cờ Tổ quốc bay trên mui tàu chính là dấu mốc sống giữa biển khơi. Với ông Nguyễn Quốc Chinh và nhiều ngư dân Lý Sơn, còn sống là còn hướng về biển.
“Bây giờ con cháu khi ra Hoàng Sa khai thác, cuối năm, người ta thường hốt cát ở Hoàng Sa đem về bỏ vào lư nhang để đốt cho ông bà mình, chính là tưởng niệm. Vì trong cái cát san hô đó có một phần xương máu của cha ông, con cháu phải ra ngoài Hoàng Sa, vừa khai thác, vừa bảo vệ chủ quyền”.
Hoàng Sa không xa. Xa hay gần không đo bằng hải lý mà đo bằng ký ức về chủ quyền.
Tại thành phố Đà Nẵng, hơn 300 tài liệu, bản đồ, hiện vật trong Nhà trưng bày Hoàng Sa đã kể lại hành trình cha ông khai phá, xác lập và gìn giữ chủ quyền. Nhưng có những “tư liệu sống” không nằm trong tủ kính, đó là ký ức của những con người đã từng đặt chân đến đảo. Bây giờ, họ đã già, có người đi đứng không vững, nhưng ước nguyện được trở lại Hoàng Sa luôn cháy bỏng trong tim.
Với họ, nơi ấy không chỉ là một vùng biển đảo, mà là phần máu thịt đã gửi lại, là điều phải gìn giữ và trao lại cho thế hệ sau. Và khi còn những con tàu rời bến mỗi bình minh, có những ánh mắt lặng lẽ dõi theo từ bờ, thì Hoàng Sa vẫn ở đó, không chỉ để nhớ, mà để giữ.
Long Phi/VOV - miền Trung
Bình luận