Không có cha mẹ nào mong con mình chết trước, nhưng với cựu chiến binh Đỗ Đức Địu, người đã dành gần nửa cuộc đời chăm sóc những đứa con mang di chứng chất độc da cam, đó lại là điều ông cầu mong mỗi ngày. Bởi ông hiểu, nếu một ngày vợ chồng ông nhắm mắt trước, những đứa con còn sống sẽ không biết nương tựa vào ai. Câu chuyện của cựu chiến binh Đỗ Đức Địu là minh chứng xót xa cho thấy nỗi đau chất độc da cam không dừng lại ở một thế hệ mà còn kéo dài dai dẳng, đè nặng tâm can người đi trước và là nỗi day dứt về tương lai những đứa con bất hạnh khi cha mẹ già yếu.
Gia đình ông Địu từng có 15 người con, thế nhưng, 12 người đã lần lượt qua đời, ba người còn lại thì 2 người mang bệnh tật. Trong khuôn viên mảnh đất của gia đình ở xã Quảng Ninh, Quảng Trị, vợ chồng ông đã dựng riêng một nghĩa trang nhỏ, nơi có mười hai nấm mộ của chính những đứa con mình.
Sau bao lần “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, tự tay chôn cất những đứa con của mình, nước mắt của ông dường như đã cạn, chỉ còn một nỗi lo chưa bao giờ nguôi.
“Nguyện vọng thứ nhất là vợ chồng tôi còn khỏe để nuôi con được ngày nào hay ngày đó. Còn nguyện vọng thứ hai, nói ra đau lắm..., là mong các con chết trước để tôi lo cho chúng nó xong. Chứ nếu vợ chồng tôi chết trước, chúng nó ở lại trong căn nhà ấy, không ai chăm sóc tôi nghĩ đến mà không chịu nổi...". Ông Đỗ Đức Địu bày tỏ.
Ông Địu là cựu chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Ngày trở về, ông không hề biết mình đã mang trong người di chứng của chất độc da cam.
Ông xây dựng gia đình với bà Phạm Thị Nức năm 1976. Đến năm 1979, bà mới có tin vui chờ đón đứa con đầu lòng. Thế nhưng, đứa con ấy đã mất ngay sau khi chào đời. Đau buồn vì mất con, vợ chồng tiếp tục hy vọng vào những đứa con tiếp theo sẽ khỏe mạnh như mong ước. Trớ trêu, đứa thứ hai cũng mất. Rồi thêm những đứa con khác lần lượt mắc bệnh, qua đời. Đến khi hiểu ra nguyên nhân thì đã quá muộn. Vợ ông, người phụ nữ từng nặng gần 50 kg, sau 14 lần sinh con, giờ chỉ còn khoảng 30 kg.
“Gia đình chỉ mong có được một đứa con khỏe mạnh thôi. Hồi đó đâu có bác sĩ, đâu có biết chất độc da cam. Hằng sinh ra đẹp lắm, rồi tự nhiên động kinh, quẹo tay, quẹo chân... Từ đó nằm xe lăn, ăn cũng phải bơm qua ống. Bao nhiêu năm, vợ chồng tôi chỉ biết bám bệnh viện mà sống...”
Năm 1990, vợ chồng ông Địu sinh người con thứ 10 hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh, đặt tên là Đỗ Thị Hằng. Niềm hy vọng thắp lên chưa được bao lâu thì Hằng đổ bệnh. Suốt hơn mười năm, Hà Nội trở thành ngôi nhà thứ hai của ông Địu. Ông đưa con đi khắp các bệnh viện lớn, gia sản lần lượt đội nón ra đi. Gia cầm bán hết, đất đai cầm cố, đến cả sổ hưu cũng đem thế chấp. Đổi lại là hy vọng mong manh giữ con ở lại với cuộc đời này.
Bằng tình yêu của cha mẹ và sự hỗ trợ của các y bác sĩ, các tổ chức thiện nguyện cùng Làng Hữu nghị, Hằng đã đi qua tám cuộc phẫu thuật lớn.
Từ cô gái chỉ nằm bất động trên xe lăn, hôm nay Hằng đã có thể đứng dậy, tập đi và nuôi những ước mơ rất bình dị. Điều khiến cô đau nhất không phải những vết mổ, mà là mỗi lần nghe cha nhắc đến ước nguyện của mình.
“Bố em chỉ mong con cái chết trước để bố mẹ còn lo cho chúng em xong rồi mới yên tâm nhắm mắt. Nghe chua xót lắm. Vì thế em càng muốn sống khỏe, muốn học bán hàng online, muốn tự kiếm tiền để bố nhìn thấy con có thể tự lo được cho mình. Em chỉ mong bố mẹ yên lòng và tự hào về em.”. Đỗ Thi Hằng cho biết.
Điều đặc biệt ở ông Đỗ Đức Địu, sau tất cả những mất mát ấy, ông chưa từng oán trách cuộc đời: “Gia đình tôi chịu ảnh hưởng chất độc da cam thật. Nhưng tôi không oán trách ai. Chiến tranh là mình đi bảo vệ đất nước. Bây giờ chỉ cố gắng giữ phong độ của người cách mạng, còn nước còn tát, còn sức thì còn chăm con...”. Ông Đỗ Đức Địu chia sẻ
Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, di chứng chất độc da cam vẫn còn hiện hữu. Với gia đình ông Đỗ Đức Địu và nhiều gia đình cựu chiến binh khác, nó hiện diện trong những nấm mộ của những đứa con đã mất, trong hình hài những người con còn mang bệnh tật và trong những tháng ngày lặng lẽ hy sinh của các bậc cha mẹ. Nhưng giữa những mất mát ấy, vẫn có những điều không bị chiến tranh đánh gục: tình yêu của cha mẹ dành cho con, nghị lực vươn lên của những người con như Đỗ Thị Hằng và niềm tin vào cuộc sống. Có lẽ, đó cũng là cách những con người mang nỗi đau da cam đang từng ngày bước tiếp, để quá khứ không chỉ còn là mất mát, mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, của lòng nhân ái và sự sẻ chia./.
Bình luận