Hoàng đế Quang Trung mang gạo từ Gia Định cứu đói miền Bắc năm 1789
VOV1 - Sau hơn 10 năm nghiên cứu tư liệu lưu trữ tại Pháp, Kỹ sư Vũ Đình Thanh đưa ra nhiều luận điểm mới về giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, trong đó nhấn mạnh vai trò của Hoàng đế Quang Trung trong việc đưa lương thực từ Gia Định ra cứu đói miền Bắc trước đại thắng quân Thanh năm 1789.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh vừa công bố một công trình nghiên cứu kéo dài hơn 10 năm về giai đoạn cuối thế kỷ XVIII của lịch sử Việt Nam, tập trung vào vai trò của Hoàng đế Quang Trung trong tiến trình thống nhất đất nước và bảo vệ Đại Việt trước nguy cơ ngoại xâm. Công trình dựa trên nhiều tư liệu lưu trữ tại Pháp, kết hợp với phân tích hậu cần quân sự, kỹ thuật xây dựng và dữ liệu hàng hải thời kỳ cận đại.

Theo Kỹ sư Vũ Đình Thanh, nghiên cứu đã được Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Huy Hiệu – nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng – xem xét và đồng tình với nhiều luận điểm quan trọng. Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cũng đề nghị công chúng tìm đọc bản Hịch năm 1792 của Hoàng đế Quang Trung hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Gallica), trong đó có nội dung hiệu triệu toàn dân chống ngoại xâm phương Tây.

Từ nhiều năm nay, nhóm nghiên cứu đặt ra hàng loạt câu hỏi liên quan đến cục diện lịch sử thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh: Vì sao sau chiến thắng quân Thanh năm 1789, vua Quang Trung không mở chiến dịch đánh Gia Định? Vì sao Nguyễn Ánh được cho là kiểm soát Gia Định từ năm 1788 nhưng lại không có động thái quân sự lớn khi Tây Sơn đưa đại quân ra Bắc? Và vì sao năm 1791 quân Tây Sơn tiến sang Lào nhưng không phát động chiến dịch lớn chống Nguyễn Ánh?

Một trong những luận điểm nổi bật của nghiên cứu là vấn đề an ninh lương thực Đại Việt giai đoạn 1787–1792. Theo Kỹ sư Thanh, chiến thắng Kỷ Dậu năm 1789 không chỉ là cuộc phản công quân sự thần tốc đánh bại quân Thanh mà còn là một chiến dịch cứu trợ nhân đạo quy mô lớn nhằm cứu người dân Bắc Hà khỏi nạn đói nghiêm trọng.

Nghiên cứu cho rằng cuối thế kỷ XVIII, thế giới đang trải qua giai đoạn khí hậu cực đoan của “Tiểu Băng Hà”. Tại châu Âu, mùa đông năm 1788 được ghi nhận khắc nghiệt bất thường, gây mất mùa và góp phần dẫn tới Cách mạng Pháp năm 1789. Cùng thời điểm đó, Bắc Hà và khu vực Thanh – Nghệ liên tiếp hứng chịu hạn hán, bão lũ, đê điều hư hại nặng nề khiến sản xuất nông nghiệp gần như sụp đổ.

Trong bối cảnh người dân kiệt quệ, quân Thanh tiến vào Thăng Long cuối năm 1788. Theo phân tích của nhóm nghiên cứu, chính quyền quân Thanh đã thu gom lương thực, thao túng nguồn cung khiến giá gạo tăng cao, đẩy tình trạng thiếu đói lên mức nghiêm trọng.

Từ các tư liệu lịch sử và ghi chép của giáo sĩ phương Tây, Kỹ sư Vũ Đình Thanh cho rằng vào thời điểm đó, Gia Định – vùng đất trù phú nhất phía Nam – đã đóng vai trò như một “vựa lúa” cứu đói cho miền Bắc. Ông dẫn nhiều nguồn tư liệu cho thấy khoảng 50 tàu lương thực lớn đã được huy động từ Gia Định đưa ra các cảng Nghệ An, Thanh Hóa để cứu trợ dân chúng.

Theo ông, nguồn lương thực này không chỉ giúp người dân vượt qua nạn đói mà còn tạo điều kiện để Tây Sơn huy động lực lượng lớn tại Thanh – Nghệ tham gia chiến dịch chống quân Thanh mùa xuân Kỷ Dậu 1789.

Sau chiến thắng, Hoàng đế Quang Trung còn ban chính sách miễn thuế nông nghiệp trong ba năm cho nhân dân miền Bắc. Từ đó, nhóm nghiên cứu đặt vấn đề rằng nếu không có nguồn lực kinh tế từ Gia Định, nhà Tây Sơn khó có thể duy trì quân đội lớn, triển khai các chiến dịch quân sự và xây dựng hệ thống phòng thủ quy mô rộng khắp.

Chính sử nhà Nguyễn ghi nhận: mãi cuối năm 1796, Nguyễn Ánh mới đúc tiền kẽm tại Gia Định và trước đó không hề phát hành bất kỳ đồng tiền nào. Ngược lại, dưới lòng đất Nam Bộ giai đoạn 1787–1796 chỉ thấy tràn ngập Quang Trung Thông Bảo và Cảnh Thịnh Thông Bảo của Tây Sơn. Đây là bằng chứng không thể chối cãi về việc Nguyễn Ánh hoàn toàn không kiểm soát Gia Định suốt những năm 1787–1792.

Một nội dung gây chú ý khác trong công trình là nhận định: Gia Định thực tế vẫn nằm trong sự kiểm soát của Tây Sơn giai đoạn sau năm 1789, vì vậy Hoàng đế Quang Trung không cần mở chiến dịch quân sự vào Nam.

Kỹ sư Thanh dẫn chứng bản Hịch đề ngày 27/8/1792 của vua Quang Trung, hiện lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp. Theo bản tiếng Pháp của tài liệu này, Nguyễn Ánh được mô tả là đang thất bại và lưu lạc cầu viện tại châu Âu. Từ đó, ông cho rằng vào thời điểm năm 1792, Nguyễn Ánh chưa hiện diện tại Gia Định như nhiều tài liệu trước đây đề cập.

Nhóm nghiên cứu cũng cho biết một số bản dịch tiếng Việt xuất hiện từ thập niên 1960 có cách diễn giải khác với nguyên văn tiếng Pháp, từ đó hình thành nhận thức rằng Gia Định đã thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Ánh trong thời gian dài trước năm 1792.

Ngoài bản Hịch, Kỹ sư Vũ Đình Thanh còn viện dẫn nhiều tài liệu của các giáo sĩ phương Tây, bản đồ hàng hải và hồ sơ lưu trữ tại Pháp. Theo ông, các tài liệu này phản ánh sự hiện diện quân sự đáng kể của Pháp tại Đông Dương cuối thế kỷ XVIII, đồng thời cho thấy hoạt động hỗ trợ quân sự dành cho Nguyễn Ánh.

Một trong những luận điểm đáng chú ý là giả thuyết về Hiệp ước Versailles giữa Nguyễn Ánh và Pháp. Nhóm nghiên cứu cho rằng có thể tồn tại hai phiên bản hiệp ước với quy mô quân sự khác nhau, trong đó một số tài liệu phương Tây mô tả lực lượng hỗ trợ lên tới hàng chục tàu chiến và hàng nghìn binh sĩ.

Liên quan đến thành Vauban Gia Định, nhóm nghiên cứu phân tích các bản đồ lưu trữ tại Pháp và cho rằng công trình này chủ yếu được xây dựng sau năm 1792 với sự tham gia của công binh Pháp, thay vì hoàn thành từ năm 1790 như nhiều tài liệu từng ghi nhận.  Trên bản đồ Vauban Gia Định, dòng chữ ghi rõ tổng công trình sư phụ trách tòa thành phức tạp ấy là Đại tá Victor Olivier – một con người mà vào thời điểm năm 1790 mới chỉ vừa tròn 19 tuổi, một chi tiết hết sức phi lý và bất thường. Trong khi đó, con dấu chủ quyền của Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp đóng trên chính tấm bản đồ này lại chỉ mới bắt đầu xuất hiện từ năm 1799.

Ngoài ra, các bản đồ có dấu của Bộ Hải quân và Bộ Ngoại giao Pháp được Kỹ sư Thanh sử dụng để đưa ra nhận định rằng Pháp chỉ thực sự thiết lập hiện diện quân sự quy mô lớn tại Côn Đảo và Gia Định từ sau năm 1792.

Nghiên cứu cũng đề cập vai trò của tài nguyên diêm tiêu và phốt pho trong công nghệ quân sự cuối thế kỷ XVIII. Theo Kỹ sư Thanh, nguồn nguyên liệu từ hang dơi và đảo chim ở Biển Đông có ý nghĩa chiến lược đối với sản xuất thuốc súng, khiến Đông Dương trở thành khu vực cạnh tranh của các cường quốc châu Âu.

Từ các bản đồ hàng hải Pháp giai đoạn 1788–1790, nhóm nghiên cứu cho rằng khu vực Gia Định khi đó vẫn nằm trong hệ thống phòng thủ thống nhất của Tây Sơn. Một số bản đồ được vẽ trên chiến hạm Pháp Méduse cũng được xem là bằng chứng về hoạt động trinh sát và chuẩn bị can thiệp quân sự của hải quân Pháp tại Đại Việt cuối thế kỷ XVIII.

Từ toàn bộ chuỗi dữ liệu, Kỹ sư Vũ Đình Thanh đưa ra nhận định rằng cuộc chiến cuối thế kỷ XVIII không đơn thuần là nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, mà còn mang tính chất của một cuộc chiến chống sự can thiệp từ các thế lực phương Tây.

“Những luận điểm được xây dựng trên nền tảng tư duy kỹ thuật, quản trị chuỗi cung ứng và kiểm toán hệ thống. Toán học, vật lý, hóa học và dữ liệu hậu cần không biết nói dối”, Kỹ sư Vũ Đình Thanh nhấn mạnh.

Hiện công trình tiếp tục thu hút nhiều ý kiến trao đổi trong giới nghiên cứu lịch sử, đặc biệt liên quan đến việc đối chiếu các nguồn tư liệu phương Tây với sử liệu chính thống Việt Nam về giai đoạn cuối thế kỷ XVIII.

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận