Trợ lực cho doanh nghiệp nuôi biển lớn mạnh theo tinh thần Nghị quyết 20 (26/08/2026)
VOV1 - Phát triển nuôi biển công nghệ cao theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cần những doanh nghiệp đủ mạnh về vốn, năng lực quản trị và khả năng đầu tư dài hạn, làm chủ chuỗi giá trị kinh tế biển.

Nghị quyết 20 ngày 28/07/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt mục tiêu - đến năm 2030 giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm, tỷ trọng nuôi biển trong tổng giá trị sản xuất thủy sản đạt 15%; đồng thời nhấn mạnh phát triển nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp nuôi biển và ưu tiên tín dụng cho nuôi biển xa bờ.

Biển Việt Nam không thiếu tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản. Điều còn thiếu là một phương thức tổ chức sản xuất đủ lớn, đủ hiện đại để biến tiềm năng ấy thành ngành kinh tế có năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Đây cũng là điểm đáng chú ý trong định hướng mới về phát triển kinh tế biển. Nghị quyết số 20 ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh xác định rõ yêu cầu cơ cấu lại ngành thủy sản giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ có trách nhiệm và nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao.

Nghị quyết đòi hỏi chuyển dịch không chỉ về phương thức sản xuất mà còn về chủ thể dẫn dắt. Ở đó, cần sự có mặt của doanh nghiệp đàu tàu để kéo theo sự phát triển của một chuỗi giá trị. Nhưng bài toán đặt ra là: doanh nghiệp có đủ động lực để đầu tư lớn ra biển hay chưa?

Nhìn nhận vấn đề này, Anh Nguyễn Bá Ngọc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Mực nhảy Biển Đông cho rằng, nuôi biển công nghiệp khác rất xa mô hình nuôi thủy sản truyền thống lâu nay ven bờ hay đất liền. Một dự án quy mô lớn ngoài biển phải đầu tư vào hệ thống lồng nuôi chịu được sóng gió, tàu dịch vụ vận chuyển thủy sản về đất liền, thiết bị quan trắc, công nghệ cho ăn, con giống, kho lạnh, cơ sở hậu cần và chế biến. Trong khi hoạt động sản xuất lại chịu tác động trực tiếp của thời tiết, thiên tai, dịch bệnh và biến động môi trường. Nói cách khác, đây là lĩnh vực  đầu tư lớn, thời gian thu  hồi vốn kéo dài nhưng mức độ rủi ro cao. Nếu tiếp cận vốn theo cách thông thường, doanh nghiệp rất khó mạnh dạn đầu tư những dự án có quy mô đủ lớn.

Anh Nguyễn Bá Ngọc mong muốn tiếp cận được các nguồn vốn với lãi suất ưu đãi. Doanh nghiệp có thể dùng sổ cấp mặt nước biển và các tài sản hình thành trên khu vực mặt nước biển để vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tiếp cận các gói hỗ trợ của Nhà nước.

Mặc dù được xác định là một động lực quan trọng của ngành thủy sản, nhưng trên thực tế, lĩnh vực nuôi biển, nhất là các doanh nghiệp tư nhân đang gặp nhiều rào cản trong quá trình phát triển. PGS.TS Ngô Chí Long, chuyên gia kinh tế chỉ rõ, những bất cập hiện nay đến từ chính thể chế, môi trường đầu tư và khả năng tiếp cận nguồn lực: “Thể chế thiếu nhất quán, chưa tạo sự đồng hành cùng với doanh nghiệp, quy hoạch phát triển chưa rõ ràng, thiếu tính ổn định. Thứ ba nữa là tín dụng khó tiếp cận, khó tiếp thu. Đối với doanh nghiệp vấn đề đầu tư là vấn đề vốn. Môi trường đầu tư chưa minh bạch, rõ ràng.”

Thời gian gần đây, chính phủ quan tâm tháo gỡ những rào cản trong giải quyết thủ tục hành chính, giao thuê mặt nước cho lĩnh vực nuôi biển. Những quy định mới đã có bước tiến đáng kể. Nghị định 44/2026/NĐ-CP đã phân cấp mạnh hơn thẩm quyền giao khu vực biển, đồng thời quy định thời hạn giải quyết hồ sơ không quá 40 ngày đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nhưng với doanh nghiệp, câu chuyện không chỉ nằm ở số ngày giải quyết thủ tục. Điều họ cần là sự ổn định và khả năng dự báo của quyền sử dụng không gian biển trong suốt vòng đời dự án.

Một dự án nuôi biển công nghiệp không thể tính toán hiệu quả theo một, hai năm. Doanh nghiệp cần biết khu vực được giao có ổn định hay không; thời hạn sử dụng đủ dài để thu hồi vốn hay không; quyền và nghĩa vụ tài sản đối với hệ thống lồng bè, công trình, thiết bị trên biển được xác lập như thế nào; khi dự án thay đổi quy mô, công nghệ thì thủ tục ra sao? Đây là lý do tại các cuộc trao đổi về phát triển nuôi biển công nghiệp, đề xuất xây dựng cơ chế xác lập quyền tài sản đối với khu vực nuôi biển - thường được gọi là “sổ xanh” - được nhắc đến như một giải pháp để tăng mức độ an tâm cho nhà đầu tư.

"Ban hành "sổ xanh" tương tự sổ đỏ đối với đất, doanh nghiệp có thể mang sổ xanh thế chấp ngân hàng để vay vốn. Bên cạnh đó, chúng tôi đề xuất giải pháp xây dựng các cụm công nghiệp nuôi biển và các khu công nghiệp nuôi biển. Doanh nghiệp lớn sẽ đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và ngư dân sẽ thuê lại hạ tầng đó để tiến hành nuôi biển. Như vậy, chúng ta sẽ có những ngành hàng lớn, sản lượng lớn với chất lượng được chứng nhận đạt tiêu chuẩn của thị trường quốc tế." - Ông Nguyễn Hữu Dũng, chủ tịch Hiệp Hội Nuôi biển Việt Nam đề xuất.

Nghị quyết 20 đã đặt ra nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể: giảm khai thác thiếu bền vững, đẩy mạnh nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao, phát triển các cụm công nghiệp nuôi biển và ưu tiên nguồn lực cho lĩnh vực này. Phần việc còn lại là đưa những định hướng ấy đi vào cuộc sống bằng những cơ chế đủ cụ thể tạo động lực để ngư dân, doanh nghiệp, vững tin ra biển lớn.

Chương trình Biển đảo Việt Nam ngày 26 và 27/08/2026 còn có một số nội dung khác:

- Quảng Ngãi đồng bộ quản lý tàu cá từ cửa biển đến cảng cá, chống khai thác IUU

- Tân Cảng Cát Lái: Từ cảng hiện đại đến cảng thông minh, vững bước trong kỷ nguyên mới

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận