Trong nhiều thập kỷ, lưới truyền tải điện được nhìn nhận là hạ tầng kỹ thuật có nhiệm vụ đưa điện từ nhà máy đến nơi tiêu thụ. Nhưng trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng, chuyển đổi số và mục tiêu tăng trưởng hai con số, cách tiếp cận đó đang thay đổi. Lưới truyền tải điện không còn chỉ là những cột điện và đường dây, mà đang trở thành một hạ tầng năng lượng số - nơi dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các công nghệ truyền tải tiên tiến cùng vận hành để tối ưu dòng điện, kết nối các nguồn năng lượng mới và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây cũng chính là tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang hướng tới.
Phóng viên Đài TNVN phỏng vấn ông Lưu Việt Tiến - Phó TGĐ Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) về việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, ứng dụng KHCN gắn với hiện thực hoá các nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng, triển khai Quy hoạch Điện VIII (điều chỉnh) trong phát triển và hiện đại hoá hệ thống truyền tải điện Quốc gia:
Nghe âm thanh tại đây:
PV. Thưa ông, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Với ngành truyền tải điện, tinh thần này đang được EVNNPT cụ thể hóa như thế nào?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: Tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW đã được Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) cụ thể hóa, chúng tôi không chỉ ứng dụng các công nghệ đơn lẻ mà xây dựng hệ sinh thái số toàn diện cho ngành truyền tải, từ hiện trường đến phòng điều hành. EVNNPT xác định chuyển đổi số là trụ cột chiến lược, triển khai đồng bộ trên 3 trục: Vận hành số - Quản trị số - Hạ tầng số.
Về vận hành, toàn bộ 100% trạm biến áp 220kV và 500kV đã được trang bị hệ thống SCADA/EMS, điều khiển xa, giám sát trực tuyến và truyền dữ liệu thời gian thực về các trung tâm điều hành. Về quản trị, EVNNPT đang vận hành hệ thống quản lý tài sản, quản lý kỹ thuật đường dây và trạm, quản lý dự án đầu tư xây dựng trên nền tảng số.
Về hạ tầng, EVNNPT đã trang bị trung tâm dữ liệu kết hợp với hệ thống cáp quang OPGW phủ toàn bộ lưới 220-500kV tạo nền tảng cho mọi ứng dụng số hóa.
PV. Thưa ông, trong những năm gần đây, EVNNPT đã triển khai những công nghệ nổi bật nào trong quản lý vận hành lưới điện 220-500kV và hiệu quả mang lại ra sao?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: Có thể kể 6 nhóm công nghệ đang phát huy hiệu quả rõ rệt:
Một là, sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp camera hồng ngoại soi phát nhiệt và máy quét laser 3D (LiDAR) để kiểm tra đường dây, qua đó đã giảm đáng kể thời gian và rủi ro cho nhân viên vận hành ở địa hình đồi núi hiểm trở.
Hai là, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích ảnh quang, ảnh nhiệt và ảnh 3D, kịp thời phát hiện các khiếm khuyết, dấu hiệu tiềm ẩn gây sự cố thiết bị đường dây và trạm biến áp.
Ba là, hệ thống camera giám sát thông minh tại các trạm biến áp, hỗ trợ trạm không người trực và tại các vị trí cột có nguy cơ vi phạm hành lang.
Bốn là, hệ thống thông tin địa lý GIS quản lý toàn bộ tuyến đường dây truyền tải trên bản đồ số.
Năm là, triển khai trạm biến áp không người trực, hiện đã áp dụng thao tác xa 100% tại các trạm 220kV và 500kV, giúp giảm nhân lực trực ca tại trạm trong khi vẫn đảm bảo an toàn vận hành.
Sáu là, bước đầu nghiên cứu triển khai bản sao số (Digital Twin) cho trạm biến áp để mô phỏng, dự báo trạng thái thiết bị.
Hiệu quả rõ nhất là giảm thời gian phát hiện và xử lý sự cố, giảm chi phí vận hành bảo dưỡng, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện và tăng năng suất lao động. Các chỉ tiêu SAIDI, SAIFI của lưới truyền tải liên tục được cải thiện qua các năm.
PV. Thưa ông, nhu cầu điện được dự báo tiếp tục tăng rất cao trong nhiều năm tới. Một nội dung đang nhận được nhiều sự quan tâm là nghiên cứu phát triển các tuyến truyền tải điện một chiều siêu cao áp (HVDC). Vì sao công nghệ này được xem là xu hướng của thế giới? Nếu so với đường dây xoay chiều 500kV hiện nay thì HVDC có những ưu điểm gì?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: Truyền tải điện một chiều siêu cao áp (HVDC) đang là xu hướng tất yếu trên thế giới vì 3 lý do cốt lõi:
Thứ nhất, khả năng truyền tải công suất lớn trên khoảng cách xa vượt trội. Một đường dây HVDC ±800kV có thể truyền tải 6.000-10.000MW, tương đương 3-4 mạch đường dây xoay chiều 500kV, mà chỉ cần 2 dây dẫn thay vì 3 pha, hành lang tuyến hẹp hơn 30-40%.
Thứ hai, tổn thất điện năng thấp hơn đáng kể. Đường dây HVDC không có tổn thất do hiệu ứng bề mặt, không có tổn thất công suất phản kháng, tổn thất trên đường dây chỉ khoảng 3% trên 1.000km so với 6-8% của đường dây AC 500kV cùng khoảng cách.
Thứ ba, HVDC giúp tăng cường ổn định hệ thống. HVDC cho phép điều khiển linh hoạt công suất truyền tải, không bị ảnh hưởng bởi giới hạn ổn định góc lệch pha như đường dây xoay chiều (AC), có thể kết nối hai hệ thống điện có tần số hoặc pha khác nhau, và hỗ trợ ổn định tần số - điện áp cho lưới xoay chiều hai đầu.
Đặc biệt, trong bối cảnh tích hợp nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn (điện gió ngoài khơi, điện mặt trời tập trung), thì việc sử dụng HVDC sẽ là giải pháp tối ưu để truyền tải lượng công suất biến động lớn từ các trung tâm phát điện xa phụ tải, nhờ khả năng điều khiển công suất chủ động, không phụ thuộc vào trào lưu công suất tự nhiên như lưới xoay chiều (AC).
PV. Theo ông, trong bối cảnh Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi và các trung tâm năng lượng quy mô lớn sẽ phát triển mạnh ở miền Trung và miền Nam. HVDC sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc giải tỏa công suất các trung tâm năng lượng này?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: Quy hoạch điện VIII điều chỉnh xác định các trung tâm năng lượng tái tạo quy mô lớn tại miền Trung (điện gió ngoài khơi Bình Thuận, Ninh Thuận, Nam Trung Bộ) và miền Nam.
Đặc điểm chung là nguồn phát xa trung tâm phụ tải lớn nhất (miền Bắc), công suất rất lớn (hàng chục nghìn MW) và có tính biến động cao theo thời tiết. Lưới AC 500kV hiện hữu không đủ khả năng tải, thực tế hiện nay trục 500kV Bắc-Trung-Nam đã thường xuyên chạm giới hạn truyền tải trong các giờ cao điểm.
HVDC sẽ đóng vai trò như "xa lộ truyền tải" chuyên dụng, truyền trực tiếp khối lượng công suất lớn từ các trung tâm năng lượng tái tạo miền Trung về miền Bắc mà không phải mở rộng thêm nhiều tuyến AC 500kV vốn gặp rất nhiều khó khăn về hành lang tuyến, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Đồng thời, trạm chuyển đổi HVDC tại hai đầu có khả năng hỗ trợ điều khiển điện áp, tần số cho lưới xoay chiều (AC), giúp tích hợp nguồn năng lượng tái tạo biến động mà không gây mất ổn định hệ thống.
PV. Theo định hướng tại Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, trong giai đoạn 2031–2035, Việt Nam sẽ đưa vào vận hành 4 đường dây HVDC do Nhà nước đầu tư, trong đó hai dự án có tiến độ vận hành ngay từ năm 2031. EVNNPT đã và sẽ triển khai các bước cụ thể như thế nào để đạt được mục tiêu đề ra?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: EVNNPT đã chủ động triển khai công tác chuẩn bị từ sớm.
Về hợp tác quốc tế, EVNNPT đã hợp tác với các đối tác có kinh nghiệm về HVDC để nghiên cứu, chuyển giao công nghệ. EVNNPT đã thuê tư vấn nước ngoài thực hiện đề án “Nghiên cứu áp dụng công nghệ truyền tải điện một chiều HVDC tại Việt Nam”.
Về tổ chức, EVNNPT đã thành lập 7 nhóm công tác chuyên đề HVDC, bao gồm các lĩnh vực, như: hệ thống điều khiển bảo vệ, máy biến áp chuyển đổi, thiết bị nhất thứ AC/DC, hệ thống SCADA và viễn thông, thiết kế trạm chuyển đổi, vận hành bảo dưỡng và đầu tư xây dựng từ các Ban chức năng EVNNPT, các Ban Quản lý dự án và các Công ty Truyền tải điện.
Về lộ trình, EVNNPT đang tập trung vào giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, đào tạo nhân lực chuyên sâu, sẵn sàng cho giai đoạn thiết kế - đấu thầu - thi công từ khoảng năm 2028-2029 để kịp vận hành từ năm 2031 đối với hai dự án ưu tiên là dự án HVDC Trung Trung Bộ 1 - Bắc Bộ 1 và dự án Trung Trung Bộ 2 -Bắc Bộ 2.
PV. Đầu tư HVDC chắc chắn sẽ đòi hỏi nguồn vốn rất lớn cũng như trình độ công nghệ cao. Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước, theo ông Việt Nam cần chuẩn bị những điều kiện gì để từng bước làm chủ công nghệ này?
Phó TGĐ EVNNPT Lưu Việt Tiến: Qua nghiên cứu kinh nghiệm các nước đã triển khai HVDC thành công như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và một số nước Bắc Âu, Việt Nam cần chuẩn bị 4 điều kiện then chốt, hoàn toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW:
Một là nhân lực: Cần đào tạo đội ngũ kỹ sư chuyên sâu về HVDC, bao gồm cả cử cán bộ đi thực tập tại các dự án HVDC đang vận hành trên thế giới.
Hai là tiêu chuẩn kỹ thuật: Xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia TCVN về HVDC (thiết kế, thi công, thí nghiệm, vận hành) mà hiện nay Việt Nam chưa có.
Ba là nội địa hóa có lộ trình: Giai đoạn đầu cần hợp tác với nhà cung cấp công nghệ quốc tế (GE Vernova, Siemens Energy, Hitachi Energy, TBEA, NR Electric...) theo hình thức chuyển giao công nghệ, từng bước nội địa hóa phần xây lắp, vật tư phụ trợ, rồi tiến tới tham gia sản xuất thiết bị chính.
Bốn là cơ chế đầu tư: HVDC đòi hỏi vốn lớn (ước tính mỗi tuyến 2-3 tỷ USD), cần có cơ chế tài chính đặc thù – huy động vốn vay ưu đãi quốc tế và cơ chế cho phép đàm phán hợp đồng EPC với điều khoản chuyển giao công nghệ bắt buộc.
Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh "khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu" và "làm chủ công nghệ lõi", thì HVDC chính là một công nghệ lõi mà ngành truyền tải điện Việt Nam cần làm chủ trong thập kỷ tới, và EVNNPT xác định đây là nhiệm vụ chiến lược, không chỉ là một dự án đầu tư đơn thuần mà là nhiệm vụ nhằm làm chủ công nghệ cũng như chuyển hệ thống truyền tải điện sang một giai đoạn phát triển mới.
PV. Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguyên Long (thực hiện)
Bình luận