Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế là một nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng. Theo các chuyên gia, đây cũng chính là “kim chỉ nam” để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số” trong cả giai đoạn 2026 - 2030.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên; Đến năm 2030, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP...
Để đạt được mục tiêu này, Đảng ta định hướng “đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Cùng với định hướng hình thành các động lực tăng trưởng mới, một yêu cầu cốt yếu được đặt ra, đó là làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống bằng khoa học, công nghệ. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, thì nay phải tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và nguồn nhân lực chất lượng cao để đưa tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP vào năm 2030.
Ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của ứng dụng công nghệ vào các ngành công nghiệp nền tảng như luyện kim, hóa chất, năng lượng, cơ khí chế tạo, vật liệu… và dẫn chứng cụ thể: "Đóng góp nhanh cho tăng trưởng nhất và dựa trên những gì mình có lợi thế, thì mình có tài nguyên khoáng sản. Thế nhưng thời gian vừa qua chủ yếu là khai thác thô và chế biến sơ thôi. Bây giờ chúng ta muốn gia tăng giá trị thì phải tập trung đầu tư khoa học công nghệ để chế biến sâu khoáng sản; vì khoáng sản đóng góp rất nhanh và trực tiếp vào tăng trường hai con số. Làm chủ được công nghệ thì vừa đóng góp trực tiếp về GDP, vừa giải quyết bài toán thứ hai là tự chủ nguyên liệu, thiết bị đầu vào. Đó cũng là một trong những thực tế về chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trước đây chúng ta chỉ khai thác thô thôi, khi mà chúng ta đầu tư công nghệ chế biến sâu hơn, thu hút những nhà đầu tư chiến lược để đồng hành khai thác lợi thế thì cũng có thể coi là một điểm sáng trong việc thay đổi mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới".
Theo các chuyên gia, đây không chỉ là động lực phát triển, mà là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới; là yêu cầu mang tính chiến lược, nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Từ thực tế của một nền kinh tế có độ mở lớn, tổng kim ngạch thương mại lên tới gần 200% GDP, sản xuất hàng hóa chủ yếu để xuất khẩu nhưng giá trị lợi nhuận thu về chưa tương xứng; Khu vực FDI đóng góp tới hơn 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng công nghiệp chế biến và công nghệ cao nhưng chuỗi cung ứng còn hạn chế, chuyên gia kinh tế, TS Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng: "Chúng ta mới chủ yếu là nhập khẩu công nghệ, đổi mới sáng tạo về công nghệ còn khá hạn chế. Nghị quyết của Đảng về việc đổi mới khoa học công nghệ đã đánh đúng vào những hạn chế của nền kinh tế của chúng ta hiện nay, và khơi dậy nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp cũng như của cơ quan quản lý để chúng ta sẽ cùng có biện pháp để giúp cho khoa công nghệ thực sự trở thành chìa khóa để đẩy mạnh hơn nữa việc hấp thụ công nghệ, phổ biến công nghệ và tiến tới đó là sáng tạo công nghệ, đặc biệt những công nghệ mang tính chất cơ bản, truyền thống, rồi những công nghệ có tính hiện đại, tính mới hơn như là trong lĩnh vực bán dẫn hay lĩnh vực khoa học công nghệ thông tin mà chúng ta đã làm tương đối tốt trong thời gian vừa qua..."
Đồng quan điểm này, các chuyên gia nhấn mạnh tầm quan trọng của các Nghị quyết được Bộ Chính trị ban hành thời gian qua, trong đó, Nghị quyết 57-NQ/TW đã xác định động lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng của lực lượng sản xuất mới; Nghị quyết 10-NQ/TW xác định cách thức huy động nguồn lực bên ngoài, chuyển từ thu hút FDI bằng số lượng sang lựa chọn FDI chất lượng cao, công nghệ cao, có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị và lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thanh Hương, Trưởng khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) nhìn nhận: "Công nghệ là nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Khi chúng ta đưa công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trong sản phẩm thì giá trị gia tăng của những sản phẩm chúng ta đưa ra thị trường thế giới mới tăng lên, từ đó mới tăng được lợi nhuận, nâng cao thu nhập của người lao động tham gia vào lĩnh vực xuất khẩu".
Rõ ràng, đổi mới mô hình tăng trưởng không còn là điều chỉnh cách tăng trưởng mà là chuyển sang một mô hình phát triển mới, trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực tăng trưởng chủ yếu. Thế nhưng, không thể có mô hình tăng trưởng mới nếu vẫn vận hành bằng tư duy quản lý cũ. Điều này cũng đồng nghĩa, phải tháo gỡ điểm nghẽn thể chế để khơi thông, giải phóng mọi nguồn lực. Cùng với đó, phải phát triển doanh nghiệp và con người là trung tâm của mô hình tăng trưởng mới. Ở đó, “kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; gắn đầu tư nước ngoài với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo phải thực sự chuyển hóa thành năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh”.
Từ sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp thời gian qua, TS Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch kiêm TTK Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhìn nhận bằng những kỳ vọng mới đóng góp vào mô hình tăng trưởng mới: "Nhiều doanh nghiệp đã xác định tái cấu trúc sản xuất kinh doanh của mình, nhìn thấy cái sự chuyển mình trong cách tiếp cận: Thứ nhất là tiếp cận với công nghệ mới; Thứ hai là tiếp cận với thị trường mới - mở rộng thị trưởng trong nước và quốc tế; tiếp cận với những chiến lược, tính toán dài hạn hơn. Ví dụ như các doanh nghiêp thì quan tâm nhiều hơn đến việc khai thác FTA , làm thế nào để khai thác, đẩy mạnh xuất khẩu; và mục đích của các doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở xuất khẩu mà dài hạn ở chỗ là muốn tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, để tạo nên cái thế đứng bền vững. Cái thứ ba là nó thể hiện cái chuyển dịch sang sản xuất xanh, sản xuất có yếu tố bền vững, số hóa nó diễn ra mạnh mẽ hơn..."
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra chỉ tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55% vào năm 2030. Điều này cho thấy, mục tiêu tăng trưởng trên 10% không phải chỉ bằng tăng đầu tư, mà bằng tăng năng suất. Nếu tăng trưởng trước đây chủ yếu đến từ mở rộng quy mô vốn và lao động, thì giai đoạn 2026-2030 tăng trưởng được kỳ vọng sẽ đến từ năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người - cũng chính là con đường để Việt Nam không chỉ tăng trưởng nhanh hơn, mà còn phát triển bền vững hơn, tự chủ hơn và có vị thế cạnh tranh cao hơn trong nền kinh tế toàn cầu - như trong bài phát biểu Khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khoá XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh./.
Nguyên Long
Bình luận