Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết số 20-NQ/TW) do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 28/7/2026 xác định phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các ngành, lĩnh vực biển mới. Trong đó, đến năm 2030 công suất nguồn điện gió ngoài khơi đạt từ 6-10 GW. Theo các chuyên gia, việc đầu tư thành công các dự án điện gió ngoài khơi là cơ hội vàng để Việt Nam bứt phá kinh tế biển.
Nghe âm thanh tại đây:
Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng trên một triệu km² cùng nguồn tài nguyên gió ngoài khơi được đánh giá thuộc nhóm tốt nhất khu vực là cơ hội để phát triển nguồn điện sạch với quy mô lớn. Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, việc phát triển điện gió ngoài khơi (ĐGNK) sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện và tăng khả năng chống chịu trước những biến động của thị trường thế giới, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Tại Hội nghị Năng lượng gió khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 hồi trung tuần tháng 6 vừa qua, ông Ben Backwell - Giám đốc điều hành Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) cho biết, nguồn tài nguyên kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam lên đến 600 GW; Đại diện Bộ Công Thương thông tin về mục tiêu phát triển từ 6.000 - 17.000 MW (6-10 GW) công suất ĐGNK phục vụ nhu cầu điện trong nước, dự kiến vận hành giai đoạn 2030 - 2035 đã được đưa vào Quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh); Còn theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Tạ Đình Thi, tại diễn đàn này ông đã chia sẻ với các nhà đầu tư quốc tế về việc cần phát triển ĐGNK gắn với phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ... thay vì chỉ tập trung vào các dự án phát điện: "Cũng đặt ra đối với các nhà đầu tư là ở Việt Nam chúng ta có lợi thế như thế, nhưng mà nên phát triển theo các chuỗi giá trị chứ mình không nên tập trung vào một cái khâu hay hoặc là cứ tập trung chỉ nhằm vào các dự án điện, thì chúng tôi nghĩ là nó cũng chưa đầy đủ".
Tiếp nối Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng, theo chủ trương mới của Đảng tại Nghị quyết số 20-NQ/TW, ĐGNK không đơn thuần là phát triển một loại hình nguồn điện mới, bổ sung nguồn điện sạch mà còn mở ra cơ hội phát triển một ngành kinh tế biển có tác động lan tỏa, kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao.
Từ việc xuất khẩu 33 chân đế điện gió quy mô lớn vào tháng 6/2025 và là nhà thầu của 10 trạm biến áp ngoài khơi với tổng công suất khoảng 6 GW trong khoảng 5 năm trở lại đây, Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) - Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam đã chứng minh về khả năng tiếp cận công nghệ và thành công ở một số lĩnh vực trong ngành công nghiệp ĐGNK. Trưởng ban thương mại PTSC Nguyễn Tuấn chia sẻ: "Chỉ riêng một dự án chân đế của ĐGNK đã cho doanh thu xuất khẩu hơn 300 - 400 triệu USD, tạo công ăn việc làm cho gần 3.000 người của gần 100 doanh nghiệp trong nước trong khoảng 3 năm. Chỉ một hợp đồng nhỏ thôi nhưng nó đã mang lại công ăn việc làm, doanh thu, ngoại tệ như thế, lợi ích rất lớn. Chưa kể đến những lợi ích khác đối với đất nước, đấy là sự tự chủ. Nếu như Việt Nam không xây dựng được ngành công nghiệp ĐGNK thì cũng sẽ không thể tự chủ để phát triển 16-17GW được khi mà chúng ta phải phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài".
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, quốc gia nào sớm hình thành được chuỗi cung ứng ĐGNK sẽ giành lợi thế lớn trong cuộc cạnh tranh về công nghệ xanh và công nghiệp năng lượng. Một dự án ĐGNK không chỉ tạo ra điện năng mà còn kéo theo sự phát triển của hàng loạt ngành công nghiệp như đóng tàu chuyên dụng, chế tạo kết cấu thép, sản xuất cáp ngầm, dịch vụ khảo sát địa chất, cảng biển, logistics, vận hành, bảo dưỡng và các dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao. Chuỗi giá trị này tạo ra hàng chục nghìn việc làm có trình độ, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững ở mức hai con số và xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, ĐGNK đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá; là cơ hội để các ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, xây dựng, vận tải biển và dịch vụ kỹ thuật cùng phát triển. Khi tỷ lệ nội địa hóa được nâng lên, giá trị gia tăng sẽ không chỉ nằm ở sản lượng điện tạo ra mà còn ở năng lực làm chủ công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và từng bước tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tiến sĩ Dư Văn Toán - Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, khi các dự án ĐGNK được đầu tư sẽ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng của các địa phương ven biển và nền kinh tế: "Không chỉ mở ra cơ hội hình thành chuỗi sản xuất, cung ứng dịch vụ quy mô lớn, ĐGNK còn tạo ra dư địa đầu tư rất đáng kể cho các địa phương ven biển. Hiện Việt Nam có 21 tỉnh, thành phố giáp biển và hầu hết đều sở hữu điều kiện gió thuận lợi để phát triển ĐGNK. Theo các khảo sát, tốc độ gió trung bình nhiều năm tại các khu vực ven biển đều đạt từ khoảng 6 m/s trở lên, phổ biến trên 7 m/s - ngưỡng được đánh giá là rất phù hợp để phát triển các dự án ĐGNK quy mô công nghiệp. Với một trang trại ĐGNK tiêu chuẩn có công suất khoảng 500MW, tổng mức đầu tư có thể lên tới gần 2 tỷ USD. Nếu mỗi địa phương ven biển đều từng bước triển khai các dự án quy mô này, lượng vốn đầu tư huy động sẽ là rất lớn, không chỉ tạo động lực cho tăng trưởng của từng địa phương mà còn đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức "hai con số" của cả nước".
Cũng theo TS. Dư Văn Toán, tính đến thời điểm hiện nay, cùng với việc giao cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam triển khai khảo sát các dự án ĐGNK tại khu vực miền Bắc và miền Nam, một số doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài đến từ Đan Mạch, Hoa Kỳ, Nhật Bản... cũng đã được cấp phép khảo sát biển với tổng công suất khoảng 10 GW. Dù vậy, để biến tiềm năng thành hiện thực vẫn còn rất nhiều việc phải làm, nhất là khi chỉ còn hơn 4 năm để hoàn thành mục tiêu 6 - 10 GW ĐGNK mà Nghị quyết 20-NQ/TW của Trung ương đề ra.
Điều quan trọng nhất hiện nay theo TS. Dư Văn Toán là phải sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và ban hành cơ chế đặc thù cho ĐGNK. Với quy mô vốn rất lớn và thời gian triển khai kéo dài, lĩnh vực này cần một môi trường chính sách ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao để tạo niềm tin cho nhà đầu tư: "Phải sửa đổi những luật quan trọng và liên quan đó là Luật điện lực và Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo, thì trong năm nay hai đạo luật này đều có chủ trương sửa. Trong đó, Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo thì cần quy định rõ về phân bổ không gian biển, cơ chế cấp phép, đánh giá tác động môi trường, chính sách sử dụng và thuê mặt biển, đáy biển, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư. Đồng thời, Luật Điện lực cần bổ sung cơ chế cấp giấy phép điện lực, trước mắt ưu tiên cho các dự án triển khai đến năm 2030; Ngoài ra, cũng cần quy hoạch quỹ đất cho trạm biến áp trên bờ, đường dây kết nối nhằm bảo đảm hạ tầng truyền tải đồng bộ".
Tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khoá XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh không chỉ dừng ở việc xác định ĐGNK là một động lực trong phát triển kinh tế biển, Nghị quyết đã đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, quy hoạch và cơ chế chính sách để mở đường cho ngành kinh tế này phát triển. Đây chính là định hướng chiến lược và cũng là yêu cầu cấp bách để tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, khơi thông nguồn lực đầu tư, đưa tiềm năng ĐGNK trở thành động lực phát triển mới, hiện thực hoá khát vọng quốc gia biển mạnh của Việt Nam trong những thập niên tới./.
Nguyên Long
Bình luận