Bài toán điều hành đặt ra không chỉ là thúc đẩy sản xuất, mở rộng đầu tư hay tăng tổng cầu, mà còn phải giải quyết vấn đề rất cụ thể: làm thế nào để giảm chi phí cho doanh nghiệp, giảm gánh nặng sinh hoạt cho người dân, trong khi vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Giảm 2% giá bán lẻ điện bình quân; đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% - đó là các chính sách được Chính phủ triển khai, có hiệu lực ngay từ đầu tháng 11 này. Trước đó là yêu cầu các ngân hàng giảm mặt bằng lãi suất cho vay từ 1,5 đến 2%/năm.
Điểm đáng chú ý là ba nhóm giải pháp này cùng hướng vào một mục tiêu: giảm chi phí đầu vào của nền kinh tế, từ chi phí vốn, chi phí năng lượng đến chi phí vận tải và lưu thông hàng hóa. Các chuyên gia kinh tế đã phân tích “vòng” tác động của đợt giảm giá giá, thuế và lãi suất này, cho thấy ở vòng tác động thứ nhất, lợi ích ngay lập tức là phần chi phí được giảm trực tiếp. Với người dân, giá xăng giảm giúp tiết kiệm một khoản chi phí đi lại, sinh hoạt; giá điện giảm góp phần giảm hóa đơn tiêu dùng, nhất là trong bối cảnh nhu cầu điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất vẫn ở mức cao. Với doanh nghiệp, nhất là những ngành sử dụng nhiều điện, nhiên liệu và vốn vay như vận tải, logistics, thép, xi măng, dệt may, chế biến, chế tạo, việc giảm giá các yếu tố đầu vào có thể giúp hạ bớt áp lực chi phí vận hành.
Nhưng điều đáng quan tâm hơn nằm ở “vòng” tác động thứ hai: hiệu ứng lan tỏa từ giảm chi phí đầu vào đến giá thành sản phẩm, giá hàng hóa, sức mua và mặt bằng giá chung.
Xăng dầu là một yếu tố đầu vào có tính lan tỏa rất rộng. Nếu mức giảm chi phí được phản ánh vào giá dịch vụ vận tải, giá hàng hóa, người tiêu dùng sẽ là đối tượng được hưởng lợi tiếp theo. Khi đó, việc giảm thuế không chỉ tác động đến người mua xăng tại cây nhiên liệu, mà còn có thể góp phần giảm áp lực giá cả trong nhiều lĩnh vực khác.
Tương tự, giá điện giảm không chỉ làm giảm hóa đơn tiền điện của từng hộ gia đình hay doanh nghiệp. Với những ngành sản xuất có tỷ trọng chi phí điện lớn, đây còn là cơ hội để hạ giá thành sản phẩm, cải thiện khả năng cạnh tranh. Còn khi lãi suất cho vay giảm, doanh nghiệp có điều kiện giảm chi phí tài chính, bớt áp lực trả lãi, có thêm nguồn lực để đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất. Nếu những lợi ích này được chuyển hóa thành giá bán hợp lý hơn, nền kinh tế sẽ có thêm một động lực quan trọng để kiểm soát lạm phát từ phía chi phí.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng, chính sách giảm chi phí chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi có sự chuyển tiếp thực chất từ khâu điều chỉnh giá đầu vào đến giá thành và giá bán đầu ra. Giá xăng giảm không đồng nghĩa mọi giá cước vận tải lập tức giảm tương ứng; giá điện giảm 2% cũng không có nghĩa giá thành của tất cả sản phẩm đều giảm 2%; lãi suất cho vay giảm nhưng doanh nghiệp vẫn có thể khó tiếp cận vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm, phương án kinh doanh khả thi hoặc gặp vướng mắc về thủ tục.
Do đó, điều cần thiết lúc này là tăng cường giám sát thị trường, bảo đảm các chính sách giảm thuế, giảm giá được phản ánh hợp lý vào giá hàng hóa và dịch vụ. Không để xảy ra tình trạng chi phí đầu vào đã giảm nhưng giá bán vẫn neo cao, lợi ích chính sách không đến được với người tiêu dùng. Cùng với đó, các ngân hàng cần công khai, minh bạch điều kiện và đối tượng được hưởng lãi suất ưu đãi, tránh để chính sách giảm lãi suất chỉ dừng lại ở những con số công bố.
Giảm chi phí đầu vào là tạo thêm dư địa cho sản xuất. Giảm áp lực giá cả là bảo vệ sức mua và an sinh xã hội. Và khi cả hai mục tiêu ấy được thực hiện đồng thời, hiệu quả của chính sách không chỉ được đo bằng mức giảm giá trong một vài tháng, mà phải được thể hiện bằng sức bật thực chất của doanh nghiệp và khả năng duy trì ổn định kinh tế vĩ mô.
Đó cũng chính là thước đo quan trọng nhất đối với “gói” giải pháp mạnh đang được triển khai: chính sách phải đến được với doanh nghiệp, người dân; lợi ích phải lan tỏa đến nền kinh tế và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững./.
Bình luận