Kỳ 2: Vững niềm tin – đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng “tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, hiện đại” trong kỷ nguyên mới
Phát triển Công nghiệp Quốc phòng (CNQP) trong kỷ nguyên mới đứng vững trên cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Quá trình phát triển là thời gian để cụ thể hóa chủ trương, đột phá về nhân lực và tăng cường yếu tố lưỡng dụng.
Thực tiễn 40 năm đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên” (1), khẳng định tính đúng đắn không thể phủ nhận cho sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng. Những thành tựu đã đạt được và khát vọng xây dựng nền CNQP “tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, hiện đại” đứng vững trên những cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy.
Nền tảng vững chắc
Về vai trò của CNQP – sản xuất vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sớm được những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin quan tâm luận giải. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào …việc phát minh ra những vũ khí tốt hơn và việc thay đổi chất liệu người lính”(2). Trên thực tế, “súng lục thắng thanh kiếm … công cụ hoàn hảo hơn sẽ thắng công cụ không hoàn hảo bằng” (3). V.I.Lênin khi bàn về vai trò của vũ khí cũng đã chỉ ra: “Một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” (4).
Vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc yêu cầu tự chủ, tự lực của một dân tộc, Người cho rằng mọi việc trước hết phải tự lực cánh sinh, “có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới tự do” (5). Người khẳng định: “việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng” (6) và “Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí” (7). Người nhấn mạnh việc tận dụng mọi nguồn lực trong nước để sản xuất vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, không quá lệ thuộc vào bên ngoài.
Thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cũng đã minh chứng cho những kỳ tích đánh giặc giữ nước của cha ông khi sử dụng những loại vũ khí do chính người Việt phát minh (Nỏ Liên Châu – thời Âu Lạc, “Thần cơ sang pháo” – thời nhà Hồ; “Hỏa hổ”, “Hỏa đồng”, “Hỏa cầu lưu huỳnh” – thời Tây Sơn…). Tiếp nối mạch nguồn đó, trong thời đại Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã phát huy tinh thần tự lực, tự cường, tích cực chế tạo vũ khí để đánh giặc trong điều kiện thiếu thốn của cuộc hai cuộc kháng chiến, như: súng Bazooka (1947), tên lửa vác vai A12 (1965); giải pháp khắc phục thành công thủ đoạn gây nhiễu rãnh đạn của không quân Mỹ và nắp thêm hệ thống kính ngắm quang học để điều khiển ăngten tên lửa SAM.2 (1972) góp phần bẻ gãy “Pháo đài bay” B52 của địch, làm nên chiến thắng “Điện Biên phủ trên không” lịch sử…
Trong giai đoạn hiện nay, kế thừa những kinh nghiệm quý báu về chế tạo vũ khí có được trong chiến tranh giải phóng, hiện thực hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, ngành CNQP những năm qua đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc, làm chủ được nhiều công nghệ quan trọng, công nghệ lõi, chế tạo ra được nhiều chủng loại vũ khí, khí tài trang bị cho Quân đội và hướng tới xuất khẩu. Đơn cử, 80% VKTB đưa vào sử dụng trong Quân đội là từ kết quả các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước, với các loại vũ khí trang bị được nhiều người biết đến thông qua triển lãm quốc phòng hằng năm như: Tổ hợp tên lửa phòng không S-125-VT, các loại UAV, hệ thống tác chiến điện tử, radar cảnh giới biển, hệ thống tên lửa bờ Trường Sơn với tên lửa hành trình diệt hạm Sông Hồng, xe chiến đấu bộ binh XCB-01… và rất nhiều các chủng loại vũ khí, khí tài khác do chính người Việt Nam làm chủ. Khẩu hiệu “Make in Việt Nam” đã được ngành CNQP trả lời bằng những sản phẩm cụ thể, rất thuyết phục. Những kết quả hiện thực đó cho thấy, chủ trương “đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, hiện đại” được Đại hội XIV của Đảng chỉ ra là hoàn toàn đúng đắn, có cơ sở khoa học và thực tiễn sáng rõ. Đồng thời, chúng ta cũng thấy rõ bộ mặt thật của những kẻ hô hào xảo trá với luận điệu “Việt Nam không cần, không nên, không đủ sức phát triển công nghiệp quốc phòng”.
Để tiếp tục đẩy mạnh đột phá phát triển CNQP trong kỷ nguyên mới
Đất nước ta đã bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, yêu cầu giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế đang được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh của một thế giới với “các thách thức toàn cầu tiếp tục tác động bất lợi đến an ninh và phát triển của tất cả các nước, trong đó có Việt Nam” (8). Do đó, để tiếp tục đẩy mạnh đột phá phát triển CNQP theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng có thể xem xét thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
Một là, tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển CNQP. Theo đó, các bộ, ngành, cơ quan chức năng có liên quan tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26 - 01 - 2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Luật công nghiệp quốc phòng an ninh và động viên công nghiệp (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Nghị định số 103/2025/NĐ-CP, ngày 15 - 5 - 2025 của Chính phủ về “Quy định một số chính sách đối với cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt và chế độ, chính sách đối với người lao động trong cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt”…Thông qua quá trình triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước, các cơ quan chức năng tiếp tục tham mưu hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo ra khung thể chế, pháp lý vượt trội, tạo đà cho CNQP phát triển bứt phá.
Hai là, tiếp tục triển khai hiệu quả chính sách thu hút, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ với nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ ngành CNQP. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt nguồn nhân lực giữa các ngành nghề trong xã hội, nhất là xu hướng tuyển sinh quân sự có thời gian “kém hấp dẫn hơn” với các lĩnh vực khác, việc quan tâm tuyên truyền, giới thiệu và tăng sức hấp dẫn với người trẻ vào phục vụ trong Quân đội nói chung, ngành CNQP nói riêng cần được các cơ quan chức năng tiếp tục quan tâm thực hiện, nhằm tạo nguồn lâu dài, ổn định và kế tiếp trong các ngành khoa học phục vụ CNQP. Đồng thời, tạo ra cơ chế phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ sở nghiên cứu, trường đại học...trong huy động nguồn nhân lực chất lượng cao thực hiện các nghiên cứu đột phá được đề xuất ở “Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược”. Tiếp tục quan tâm chăm lo, có mức đãi ngộ xứng đáng cho các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, tài năng trẻ khoa học công nghệ…ở các ngành khoa học kỹ thuật và khoa học khác, để nguồn nhân lực chất lượng cao này có cơ hội sáng tạo và bứt phá.
Ba là, đẩy mạnh yêu cầu “lưỡng dụng” của CNQP. Công nghiệp quốc phòng là một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, một trong những yếu tố thể hiện đậm nét chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội. Do đó, trong những năm tới, đẩy mạnh đột phá phát triển CNQP là cơ sở để trực tiếp đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm. Ngành CNQP cần tận dụng tối đa nguồn lực (thể chế, nhân lực, vốn…), đa dạng hóa các sản phẩm vừa phục vụ đời sống dân sinh, vừa phục vụ quốc phòng, có những mặt hàng trọng điểm, giá trị cao hướng tới xuất khẩu, kể cả xuất khẩu vũ khí theo các quy định của pháp luật.
Như vậy, trước yêu cầu, đòi hỏi bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chủ trương “đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, lưỡng dụng, hiện đại” được Đại hội XIV của Đảng đề ra là hoàn toàn đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn. Mọi mưu đồ chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch giống như những “tiếng nói vọng lại” vô nghĩa. Việc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, trong đó có chủ trương về phát triển CNQP với những sản phẩm cụ thể sẽ là bằng chứng xác đáng, phản bác luận điệu “Việt Nam không cần, không nên, không đủ sức phát triển công nghiệp quốc phòng” của các thế lực thù địch.
TS Hoàng Văn Vân – Ths Đỗ Văn Quân
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1), (8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, tr. 79, 78.
(2), (3) C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 235, 234.
(4) V.I.Lênin (1978), Toàn tập, Tập 35, Nxb Tiến Bộ, Matxcơva, 497.
(5), (6), (7) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 4, 5, 11, Nxb CTQGST, Hà Nội, tr. 553, 16, 397.
Bình luận