Cuộc họp ấy đã quyết định điều gì? Và những hạt thóc năm nào có liên quan gì đến những mái trường vừa mọc lên dọc biên giới hôm nay?
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Cái thời đấy nhớ nhất là có một ngày đi xát thóc thì cùng với mình nữa, có hai bạn học sinh nhỏ tuổi hơn mình khoảng năm, sáu tuổi. Thì hai bạn này đói quá, không thể về được nữa, thì mình phải bóc cái gạo sống để cho hai bạn ăn, để lấy sức. Và bế hai bạn ấy ngồi lên trên lưng ngựa, để ngựa vừa thồ gạo vừa thồ được hai bạn về đến trường ấy. Nhớ nhất là cái giai đoạn ấy. Đói…”
PV: Quý vị vừa nghe hai âm thanh cách nhau hơn ba mươi năm. Một là tiếng móng ngựa thồ gạo của những cậu học trò đói trên núi Thào Chư Phìn. Một là tiếng trống khai giảng vang lên ở Mường Khương sáng mùng 5 tháng 9 vừa qua, mở đầu năm học đầu tiên của những ngôi trường nội trú biên giới. Điều gì đã nối hai âm thanh ấy?
Người kể chuyện con ngựa ban nãy là ông Giàng Seo Ký, người đàn ông gần năm mươi tuổi, hôm nay đang làm việc ở Đảng ủy xã Sín Chéng. Ngày ấy, ông còn là một cậu bé mười bốn tuổi, chưa biết mặt chữ. Và để được đến lớp, cậu phải xin bố đúng một tuần.
PV: Năm 1991, tỉnh Lào Cai vừa tái lập, cả tỉnh còn mười bốn xã chưa có trường lớp. Thào Chư Phìn khi ấy là một xã vùng cao của huyện biên giới Bắc Hà, và cũng chưa có trường. Cả xã chỉ có một lớp học, mà cũng phải nhờ một gian nhỏ trong trụ sở Ủy ban xã. Vài chục đứa trẻ, lớn có, bé có, ngồi chung cả một lớp ghép.
Lớn nhất lớp là Ký. Nhà đông con, không đủ ăn, và bố cậu đã tính sẵn:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Ông già bảo là: ‘Mày thì lớn rồi, mày ở nhà mày phải cày với tôi. Còn cho hai thằng em của mày đi.’ Cho nên mình mới bảo là: ‘Thôi cứ để cho con đi học mấy ngày nữa mà không biết được chữ nào thế thì con mới về cày với bố.’ Thế là đi đúng một tuần thì ông già kiểm tra, bảo: ‘Mày phải đọc hoặc viết được chữ nào ra đây cho tôi xem.’ Cũng may mình tiếp thu nhanh, một tuần thì cũng viết được họ tên của các thành viên trong gia đình.”
PV: Rồi một chuyện xảy ra, khiến chính ông bố phải đổi ý:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Lúc đấy ông già mình làm trưởng thôn mà ông không biết đọc, không biết viết chữ. Mình đi học được năm tháng, hết một kỳ, về thì ông nhờ viết hộ cái danh sách, rồi các biên bản họp thôn, thì mình cũng viết được. Thế là ông bảo: ‘Thôi mày cũng tiếp thu nhanh thế thì để cho mày đi học cùng với các em.’ May quá mình lại được đi học. Nếu không thì cũng rơi vào tình trạng mù chữ.”
PV: Người trưởng thôn không biết chữ đã giữ con mình ở lại với con chữ.
Còn người đứng lớp ở Thào Chư Phìn hồi ấy là thầy Giàng Sín Chớ. Bản thân thầy cũng mười chín tuổi mới bắt đầu học ‘a, bờ, cờ’. Năm 1989, thầy về nhận công tác ở chính quê mình. Cho đến giờ, thầy vẫn nhớ kỷ niệm đầu tiên khi bước chân vào nghề:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Lúc anh ra trường về nhận bàn giao thì chỉ có một cái hòm gỗ, một chiều ba mươi, một chiều hai mươi thôi. Trong đó có hai quyển sách, một quyển sách lớp một, một quyển sách lớp hai, và có một cái dấu thôi. Không có một cái cơ sở vật chất nào hết.”
PV: Lớp học đầu tiên của thầy ở một thôn xa, chưa phải trung tâm xã, và ở một nơi mà bây giờ nghe khó tin:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “89 còn vào dạy ở chuồng trâu cơ, vì buộc trâu cả trong đấy nên phải hót phân trâu đi, xong là dạy ở trong chuồng trâu đấy, lúc bước đầu ấy. Phải nói là hoàn toàn trắng về giáo dục ở xã Thào Chư Phìn trước đây.”
PV: Rồi chính thầy đề xuất với Bí thư chi bộ đưa trường về trung tâm xã. Bà con góp gỗ, xẻ ván, góp công san nền, dựng lên một ngôi nhà gỗ năm gian. Bàn ghế cũng từ dân mà ra: năm thôn, mỗi năm mỗi thôn đóng góp một bộ. Trong lúc chờ trường dựng xong, lớp học tạm vào gian phòng trụ sở Ủy ban, nơi cậu bé Ký bước vào năm 1991.
Nhưng có lớp rồi, đi học còn phải có cái ăn. Nhà các em ở rải rác trên những sườn núi, có em đi bộ năm cây số đường mòn. Trưa đến, đứa mở nắm cơm, đứa mở nắm mèn mén. Có hôm chẳng có gì.
Gần hết năm lớp một của Ký, những bao thóc đầu tiên được gùi đến trường. Cậu học trò nhỏ khi ấy chỉ biết đến thế:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Thầy Chớ mới đề xuất với xã phát động, tuyên truyền vận động nhân dân đóng góp thóc để nuôi học sinh ăn thì được nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Hồi đấy mình cũng nhỏ cho nên cũng không biết là xã có nghị quyết hay như thế nào.”
PV: Có đấy. Năm ấy, thầy Chớ là đảng viên duy nhất trong trường, sinh hoạt ở chi bộ xã. Thầy đưa đề xuất thẳng ra cuộc họp chi bộ. Sau đó, chi bộ thống nhất ra nghị quyết, rồi giao cho các trưởng thôn đến từng nhà vận động. Còn cậu học trò lớn nhất lớp, từ hôm ấy, có thêm một việc:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Gạo thì mặc dù dân góp như thế nhưng mà rất là ít, phải ăn rất tiết kiệm. Hồi đấy mình là người lớn nhất, nên các thầy giao cho mình quản lý cái kho gạo. Tiêu chuẩn của một học sinh thì chỉ được một nửa bát thôi. Múc một bát lên thì mình lấy cái đũa gạt cho nó phẳng đi. Nếu khoảng hai mươi lăm học sinh thì mình cứ lấy bát đong ra, gạt đúng hai mươi lăm nửa bát, thì mang đi nấu.”
PV: Nhưng thóc góp về chưa phải là gạo. Chưa có máy xát, các em chia nhau mỗi đứa mười, mười lăm cân, mang đến chiếc cối giã chân trong thôn để giã, rồi nhờ các bà mẹ thổi sạch trấu. Cho đến một ngày, chính lũ học trò phải nghĩ cách:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Buổi sáng và buổi chiều đi học thì tối học sinh lại phải đi giã gạo. Làm thế này nó ảnh hưởng đến cái học tập. Thế là bọn mình lại đề xuất với nhà trường là bố mẹ học sinh cố gắng đóng góp thêm tiền đi xát thóc… Xong bọn mình cũng đi xát. Không phải xát gần mà từ Thào Chư Phìn phải dùng con ngựa thồ để thồ xuống tít dưới Bản Mế mới xát thóc ở dưới đấy.”
PV: Chuyến ngựa có hai cậu em đói lả mà quý vị nghe lúc đầu chính là một chuyến như thế.
Còn đêm về, các em ngủ ở đâu?
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Ở bên dưới thì là lớp học, bên trên thì là cái trần gác, tối thì học sinh ngủ ở trên đấy luôn. Có đứa thì có chiếu, có đứa không có chiếu thì mang cái chăn chiên ra, một nửa thì rải xuống, một nửa thì đắp. Nó khổ như thế.”
PV: Bữa cơm lúc đầu do thầy trò, rồi phụ huynh thay nhau nấu. Thầy Chớ lại đề xuất xã thuê hẳn một người cấp dưỡng, để thầy được lên lớp, trò được học, trả công theo tháng:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Lúc đầu là cũng thuê nấu mấy trăm nghìn thôi. Về sau là cũng lên một hai triệu rồi.”
PV: Và rồi những bao thóc ấy cứ nhiều dần lên:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Lúc đầu cũng vận động được ít thôi. Về sau thì đã thu được hơn mười lăm tấn rồi… Khi thu được thì tất cả đóng góp tấm ván, về đóng một cái hòm to, bằng cái phòng này này, rồi cho thóc vào đấy. Xong giao cho một ông trưởng thôn ở cái thôn gần đấy quản lý. Hàng ngày khi nấu thì xuất cho cấp dưỡng nấu.”
PV: Ngày thầy về, cả trường chỉ có một chiếc hòm gỗ nhỏ, đựng hai quyển sách và một con dấu. Năm 2000, ngày thầy rời trường ra huyện, ở lại là một chiếc hòm khác: đóng bằng ván của dân, đựng thóc của dân.
Chuyện góp thóc nuôi học trò không bắt đầu từ Thào Chư Phìn. Ông Cao Văn Tư, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lào Cai, kể: từ đầu những năm 60, nhiều xã vùng cao đã để học trò ở lại trường, gia đình góp lương thực. Gần ba mươi năm sau, khi tỉnh Lào Cai tái lập, nhiều nơi vẫn giữ nếp ấy. Nhưng ở đó, học trò phải tự xoay xở. Có những cảnh ông đến giờ vẫn chưa quên:
ÔNG CAO VĂN TƯ: “Thí dụ như là vào Trung Lèng Hồ ấy thì các em học sinh nó đem củi đi, nó sợ bạn lấy mất thì nó đem củi lên nó để lên giường ấy, nó nằm nó ôm, rất trẻ con như vậy thôi… Hay là đi vào chỗ Cán Cấu, thì cái ta-luy nho nhỏ này nó mới khoét vào để nó nấu cơm, chỗ này một nồi, chỗ này một nồi, chỗ kia một nồi. Thế mà nó chưa nấu thạo, cái vung nó kênh lên thế này này. Thế mở cái vung ra thì cơm sống.”
PV: Năm 2001, trong một chuyến công tác dọc biên giới, ông ghé một điểm trường ở Pha Long, và đi thẳng xuống cuối lớp học:
ÔNG CAO VĂN TƯ: “Vào thăm chỗ các cháu nấu cơm thì cũng thấy nồi niêu, củi đuốc, nghĩa là bừa bộn tất cả ra… Làm người quản lý thì có cái mừng. Mừng ở chỗ: ‘À, thế là các em nó đã về đây nó ở, mà nó đã ở với các thầy thì là nó được tiếp xúc với các thầy và thời gian học nó nhiều hơn.’ Nhưng mà cũng ái ngại ở chỗ như là: trời ơi, nó tự nấu cơm rồi nó luộm thuộm, nó củi đuốc, rồi thì nồi niêu này… nhếch nhác, trông nó tội lắm.”
PV: Pha Long. Xin quý vị nhớ cái tên ấy.
Vậy Thào Chư Phìn khác những nơi ấy ở đâu?
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Vì Thào Chư Phìn có cách làm riêng. Là đưa vào nghị quyết, lúc bấy giờ chưa thành Đảng ủy mà là chỉ là Chi bộ thôi, thành nghị quyết của Chi bộ, rồi là lại giao cho các trưởng thôn đi triển khai, cho nên là rất là hiệu quả. Với cái mình quản lý công khai, minh bạch hằng tuần, hằng tháng về cái chi tiêu của cái thóc này. Không để thất thoát, không để chuột gặm mất đi. Cũng nhiều chuột lắm đấy! Nhưng mà quản lý rất là tốt, cho nên là xã cũng rất là tin tưởng, dân rất là ủng hộ.”
PV: Lòng thương đã đi thêm một bước: thành nghị quyết của một chi bộ. Năm ấy, cả trường chỉ có một đảng viên là thầy Chớ. Rồi những thầy giáo trẻ người Mông được thầy kèm cặp, từng người một, cũng đứng vào hàng ngũ của Đảng. Còn cách làm góp thóc nuôi trò thì lan dần ra các xã. Và Nhà nước vào cuộc: có chế độ gạo, có tiền nuôi cấp dưỡng, có chương trình kiên cố hóa trường lớp.
Nhìn lại cả chặng đường ấy, ông Tư chỉ nói:
ÔNG CAO VĂN TƯ: “Không phải tự nhiên nó có được như bây giờ đâu cháu ơi! Tí một, tí một, gian nan lắm đấy!”
PV: Nhưng mỗi bước đi lên lại mở ra một câu hỏi mới:
ÔNG CAO VĂN TƯ: “Một bộ phận các em được hưởng chế độ, còn một bộ phận thì không. Như vậy thì nó tạo ra một cái sự chênh lệch và khác biệt trong cùng một địa phương… Đồng bào vùng cao ấy, trong tư tưởng người ta là phải là cộng đồng, phải là hòa đồng. Nếu mà người ta chỉ dừng ở cái mức là người ta suy tị thôi, nhưng mà người ta vẫn đi học thì không sao, nhưng mà không khéo thì người ta bảo: ‘Ô thế thì mày đi học còn tao không đi học nữa.’”
PV: Câu hỏi ấy đã có lời đáp từ Trung ương. Tháng 7 năm 2025, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương xây dựng hai trăm bốn mươi tám trường nội trú liên cấp ở các xã biên giới đất liền. Một tháng sau, Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ra đời. Tháng 8 vừa qua, khi đánh giá một năm thực hiện Nghị quyết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói rõ cái đích phải đến:
TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM: “Mục tiêu là không được để một học sinh nào bị hạn chế cơ hội học tập vì thiếu trường, thiếu lớp, thiếu thầy cô; không để chất lượng giáo dục và tương lai của một đứa trẻ phụ thuộc quá nhiều vào nơi em được sinh ra và lớn lên. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục có chất lượng phải là một trong những thước đo quan trọng.”
PV: Suốt chặng đường ấy, ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư được truyền đạt tới tận bí thư cấp ủy các tỉnh và các xã biên giới: coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm.
Ở Lào Cai, sáng ngày 9 tháng 11 năm ngoái, bốn ngôi trường ở bốn xã biên giới cùng khởi công, tổng vốn gần một nghìn tỷ đồng. Lễ khởi công chung của tỉnh được tổ chức ở Mường Khương. Ông Trần Huy Tuấn, khi ấy là Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, nói:
ÔNG TRẦN HUY TUẤN: “Chủ trương xây dựng hệ thống trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới là một quyết sách mang tầm nhìn chiến lược, thấm đượm tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước. Đây không chỉ là công trình giáo dục mà còn là công trình của niềm tin, tình đoàn kết dân tộc, thể hiện ý chí sắt son ‘biên cương vững mạnh, lòng dân no ấm’.”
PV: Ông cam kết: công trình hoàn thành trong tháng 8 năm 2026, kịp năm học mới. Đúng ba trăm ngày sau, cũng ở Mường Khương, tiếng trống khai giảng của cả nước vang lên.
Nhưng một quyết định dù lớn đến đâu cũng chỉ thành ngôi trường khi có đất. Pha Long, nơi hai mươi lăm năm trước ông Tư từng ái ngại trước góc bếp tự nấu của học trò, đến nay vẫn là một trong những xã nghèo nhất tỉnh Lào Cai: hơn bảy mươi phần trăm số hộ là hộ nghèo và cận nghèo. Ở đó, mỗi mảnh nương là cái ăn của cả nhà. Vậy mà mặt bằng ở Pha Long lại được bàn giao nhanh đến bất ngờ. Ông Phạm Đăng Năm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã, kể cách cấp ủy chia việc:
ÔNG PHẠM ĐĂNG NĂM: “Quan trọng là các bí thư chi bộ, trưởng thôn gương mẫu đi trước. Pha Long phân công Ban Thường vụ phụ trách từng nhóm hộ một, trực tiếp họp với các hộ đấy, cùng với bí thư chi bộ, trưởng thôn và cùng với các đoàn thể vào cuộc vận động. Như tôi phụ trách một nhóm 8 hộ, chỉ trong vòng một buổi chiều là vận động xong hết rồi, đồng tình ký vào biên bản, thì thế mới nhanh được. Trường nội trú Pha Long là dự án bàn giao mặt bằng sạch sớm nhất trong số bốn trường của tỉnh Lào Cai.”
PV: Nhanh, nhưng không dễ. Ban ngày bà con lên nương từ sớm, người đi vận động chỉ còn buổi tối. Một trong những người ấy là anh Vàng Seo Tỉn, người Mông, nay là Bí thư Chi bộ thôn Nì Sỉ, nơi có mảnh đất dựng trường. Hỏi vì sao bà con nghe mình, anh bảo:
ANH VÀNG SEO TỈN: “Bọn em chính là người đồng bào dân tộc thiểu số mà, sinh ra lớn lên tại đây. Mình là những người mà được dân tín nhiệm lựa chọn lên thì mình cũng phải là có tiếng nói và nói hợp tình hợp lý. Chỉ cần nói hợp tình hợp lý thôi, theo đúng quy định và mục đích, thì dân người ta sẽ đồng thuận rất là cao.”
PV: Bí thư chi bộ. Trưởng thôn. Quý vị có thấy quen không? Hơn ba mươi năm trước ở Thào Chư Phìn, cũng chính chi bộ ra nghị quyết, cũng chính trưởng thôn đi gõ cửa từng nhà. Từ Trung ương, đến tỉnh, đến xã, rồi về tới từng chi bộ, từng trưởng thôn: một sợi dây liền, không đứt.
PV: Ở Y Tý, nền đá cứng lại sát vách nhà dân, không thể nổ mìn, người thợ đục từng tảng đá. Giữa cái rét dưới mười độ, anh em làm xuyên Tết.
Trên công trường ấy có cả những người cha. Anh Hầu A Páo có cậu con trai vừa tròn một tuổi:
ANH HẦU A PÁO: “Trước nghèo quá, không có trường học, mình chỉ học xóa mù chữ thôi. Giờ Nhà nước đầu tư trường nội trú thế này, vui quá ra làm luôn… để con mình sau này lớn lên được học ở đây. Cứ cho nó đi học, làm giáo viên, làm bác sĩ… về quay lại giúp Nhà nước mình!”
PV: Tháng 9, cổng trường mở. Ngày trước, đứa trẻ Y Tý nào muốn học nội trú thì phải xuống tận huyện. Năm nay, ngay trên đất Y Tý đã có một ngôi trường nội trú, quy mô chín trăm tám mươi học sinh. Cánh cửa ấy mở trước hết cho những em thiệt thòi nhất.
Ở Mường Khương, cô Nguyễn Thị Thanh Huyền đã hai mươi mốt năm dạy học trò bán trú vùng cao:
CÔ NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN: “Lớp em là có 29 hộ nghèo, 4 cận nghèo và 1 là gia đình chính sách. Nhưng mà các em vẫn tích cực học tập. Ở trường cũ cơ sở vật chất không có thì các con cũng phải đun nước để tắm. Đặc biệt ở trên này mùa đông rất là rét. Ra đây các con đã được trang bị nóng lạnh. Khi được ở một cái ngôi trường với một cái tiện nghi đầy đủ như vậy, các con rất là hạnh phúc.”
PV: Những bó củi các em từng phải ôm lên giường, những nồi cơm sống dưới chân ta-luy, giờ đã thành chuyện cũ. Trong lớp của cô có em Lèng Thị Diễm Quỳnh:
EM LÈNG THỊ DIỄM QUỲNH: “Con cảm thấy rất vui, thấy rất may mắn khi mình là người được chọn để học ở ngôi trường này. Ở trường cũ của con, tủ để quần áo thì để chung, còn ở đây mỗi bạn được một ngăn rộng rãi hơn, và bọn con được ăn uống đầy đủ. Con ước mơ lớn lên trở thành cô giáo và để san sẻ những khó khăn trong gia đình.”
PV: Từ tiếng chuông báo thức lúc sớm cho đến khi đèn tắt lúc đêm, bên các em luôn có thầy cô. Cô La Thị Thu Hà phụ trách phòng nội trú của trường:
CÔ LA THỊ THU HÀ: “Đa số các con ở đây nhà cũng ở xa ấy. Có nhà ba anh em xuống đây, bố mẹ đều là đi làm xa hết. Thầy cô là cũng nội trú luôn ạ, hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ. Các lớp lớn thì đỡ hơn một chút, nhưng các lớp bé thì thầy cô sẽ hướng dẫn các bạn tỉ mỉ, cụ thể, gần gũi như các con của các thầy cô. Xong rồi đó là anh chị lớn hơn hướng dẫn các em bé hơn.”
PV: Xem lễ khai giảng trên truyền hình, thầy Chớ lại để ý một thứ chẳng mấy ai ngờ tới:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Thậm chí từ cái nồi nấu cơm cho học sinh bán trú còn thiếu. Nhưng bây giờ là đầu tư một cách rất đồng bộ như thế, nấu toàn nồi to, nồi đảm bảo chất lượng rồi. Bây giờ là có tủ lạnh để thức ăn rất là tốt. Chứ bọn anh là khổ lắm, không có cái gì cả, thiếu thốn đủ mọi thứ.”
PV: Còn đây là căn bếp của trường Pha Long hôm nay.
(Gió rít. Lá cờ bay phần phật.)
PV: Ngôi trường ấy có những người bạn đặc biệt: hai đồn biên phòng Pha Long và Tả Gia Khâu, vừa chính thức kết nghĩa với nhà trường. Riêng Đồn Biên phòng Pha Long đã hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Mỗi tuần, chiến sĩ của đồn lại sang tận phòng ở của các em. Trung tá Trương Hồng Phong, Đồn trưởng, kể:
TRUNG TÁ TRƯƠNG HỒNG PHONG: “Các bạn ấy rất ngây thơ, trong sáng, uốn nắn rất là dễ. Ví dụ: ‘Con ơi, dậy nhá, con phải gấp cái chăn đây này. Gấp như thế này con đặt gối ở vị trí này’. Đơn giản vậy thôi.”
PV: Năm ấy ở Thào Chư Phìn, cậu bé Ký và các bạn chỉ có tấm chăn chiên, nửa rải, nửa đắp.
Ngoài nếp ăn nếp ở, những người lính còn mang đến cho các em một bài học khác: bài học về cột mốc.
TRUNG TÁ TRƯƠNG HỒNG PHONG: “Cột mốc nó chỉ là một công trình bằng đá ở trên biên giới thôi, nhưng mà cái ý nghĩa của nó cực kỳ quan trọng. Nó đánh dấu cái chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta. Ví dụ như nhà các con với nhà hàng xóm đều có bờ rào đúng không? Thì đất nước cũng thế… Sau này các con lớn lên thì biết đâu trong số này sẽ có những bạn sẽ là đồng đội của chú, khoác lên mình màu xanh áo lính, màu xanh của biên phòng để cùng nhau bảo vệ quê hương. Các bạn có nhất trí không nhỉ?”
HỌC SINH (đồng thanh): “Có ạ!”
PV: Những người lính của một đồn hai lần Anh hùng kể cho các em nghe về đồng đội mình, những người đã chiến đấu và ngã xuống trên chính mảnh đất các em đang đứng. Ở góc biên giới của nhà trường có bản sao bức điện cuối cùng gửi đi từ đồn, 11 giờ trưa ngày 19 tháng 2 năm 1979. Người trực tiếp chỉ huy khi ấy là Thượng úy Trần Ngọc, Chính trị viên, Bí thư Chi bộ của đồn. Đạn đã cạn, vòng vây mỗi lúc một siết chặt, ông viết mấy dòng gửi về Bộ Tư lệnh và tỉnh: “Một sư đoàn địch đang vây hãm đồn. Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí.”
PV: Thầy Nguyễn Quốc Việt, Bí thư Chi bộ, Hiệu trưởng nhà trường, gửi gắm:
THẦY NGUYỄN QUỐC VIỆT: “Tiết học biên cương tại cột mốc biên giới để bồi dưỡng, giáo dục cho các em lý tưởng cách mạng, yêu quê hương, yêu đất nước… để mỗi một em học sinh trở thành một cột mốc sống ở nơi biên cương này.”
PV: Tiếng trống đã dứt. Nhưng ngày khai giảng mới chỉ là ngày đầu. Chính thầy Việt cũng nói thật điều còn vướng:
THẦY NGUYỄN QUỐC VIỆT: “Vì lại là trường nội trú, các em xa nhà nên các em ở đây cả thứ Bảy, Chủ nhật. Vì vậy trong cả ba mươi ngày hoạt động ở đây thì với mức tiền ăn thì chưa đảm bảo được tốt nhất. Mong là chính sách được thay đổi và nâng lên.”
PV: Đưa được các em đến trường đã khó, giữ các em ở lại lớp còn khó hơn. Năm xưa, có những ngày chính cậu bé Ký cũng muốn bỏ học:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Có một cái thời rất khổ, khó khăn, phải đi xát thóc nơi này nơi khác, và có cái lần phải đi đào củ mài về để ăn qua ngày đi học. Thì cũng muốn bỏ, không muốn đi học nữa, thì cũng được các thầy động viên. Các thầy động viên thì cũng lại tiếp tục đến lớp.”
PV: Có thầy giữ lại, cậu bé năm ấy đi tiếp. Nhưng hôm nay, mỗi năm Lào Cai vẫn có khoảng bốn nghìn em dừng lại sau lớp 9. Ông Đỗ Minh Tâm, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, nói về lời giải mà tỉnh đang đề xuất:
ÔNG ĐỖ MINH TÂM: “Khi mà các em học xong cấp trung học cơ sở thì các em đi học cấp trung học phổ thông thì không có trường bán trú. Tỉnh Lào Cai đã xin thí điểm mở rộng lên cấp THPT đối với các trường nội trú biên giới. Nếu mà đề xuất thí điểm này mà được Trung ương đồng ý thì chắc chắn là tỷ lệ liên thông sẽ là cao.”
PV: Nếu đề xuất ấy được chấp thuận, các em sẽ được học ngay bên đường biên cho đến lớp 12. Dọc biên giới sẽ có một vành đai trường học nối dài, giữ chữ, và giữ người, nơi phên dậu của Tổ quốc.
Ông Giàng Seo Vần, Bí thư Đảng ủy xã Mường Khương, tin những ngôi trường ấy sẽ sớm cho quả ngọt:
ÔNG GIÀNG SEO VẦN: “Chúng tôi hoàn toàn có điều kiện để tin tưởng là trong một thời gian không xa, 5, 10 năm nữa, các thế hệ, các cháu học sinh được học tại những ngôi trường nội trú như thế này, đây sẽ là nguồn cung cấp, bổ sung đội ngũ cán bộ chất lượng cho tỉnh Lào Cai, trong đó có cả xã Mường Khương. Và đây sẽ là điều kiện để các cháu đồng bào các dân tộc, đặc biệt là các cháu đồng bào dân tộc rất ít người, sau này trưởng thành và đóng góp xây dựng cho quê hương.”
PV: Điều ông Vần chờ đợi ở năm, mười năm tới, thầy Chớ đã được thấy từ lâu. Thầy nhìn lại lũ học trò năm xưa:
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Thì mình thấy mình khi mình về mang cái chữ về cho các cháu thì các cháu cũng dần trưởng thành, có người cũng được làm Bí thư, có người được làm Chủ tịch xã rồi. Học sinh của anh đấy!”
PV: Có một học trò của thầy đã làm cả hai việc ấy. Đó là cậu bé từng xin bố đúng một tuần để được đi học. Cậu bé từng cầm đũa gạt phẳng từng bát gạo cho các bạn.
Lớn lên, Giàng Seo Ký trở về xã làm cán bộ, rồi làm Chủ tịch xã Thào Chư Phìn. Sau này, ông từng là Bí thư Đảng ủy của chính xã ấy, nơi ngày ông còn là cậu học trò lớp một, một chi bộ nhỏ đã ra nghị quyết góp thóc nuôi ông đi học.
Khi làm lãnh đạo xã, ông gặp lại đúng bài toán của thầy mình ngày trước:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Cái thời mình đang là Chủ tịch xã ở trong Thào Chư Phìn thì người dân cũng có cái chuyện này: học sinh thì gần như khoán trắng cho cán bộ xã với nhà trường. Cho nên là buổi sáng bọn mình đi làm ở cơ quan, buổi chiều thì lại đi cùng với giáo viên, phải đi từng nhà, từng thôn một để vận động học sinh. Mình mới nghĩ: cứ làm thế này mình sẽ không thể làm được, sẽ phải làm cho nó biến đổi nhận thức của bà con nhân dân đi. Là phải chuyển sang cái giai đoạn giao nhiệm vụ: nhân dân, phụ huynh trách nhiệm với con cái, tỷ lệ chuyên cần đến lớp. Còn chất lượng học tập thì giao cho nhà trường, cơ sở vật chất thì sẽ giao cho xã với Nhà nước.”
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Mình giao như thế thì từ đấy về sau là hầu như là mình không phải đi vận động học sinh nữa. Bây giờ thì chủ yếu là gia đình nào tự chủ động đưa con đến trường hết.”
PV: Hôm nay, Thào Chư Phìn đã cùng ba xã láng giềng nhập thành xã Sín Chéng mới. Người đứng đầu chi bộ thôn Thào Chư Phìn bây giờ là anh Sùng Seo Cá. Anh cũng từng là cậu học trò lớp một của thầy Chớ. Thôn có một trăm năm mươi bảy hộ, hai mươi hai đảng viên. Và chi bộ vẫn làm theo cách của ba mươi năm trước: ra nghị quyết, rồi giao việc đến từng người.
ANH SÙNG SEO CÁ: “Mình ra một cái nghị quyết từ đầu nhiệm kỳ, xong là giao, giao luôn cho đảng viên là phụ trách bao nhiêu hộ, bao nhiêu hộ… Đảng viên thì là phải nêu gương rồi. Tất cả các đồng chí đảng viên là hằng năm là cũng đã ký cam kết nêu gương, xong là đánh giá, cuối năm thì là đánh giá cam kết nêu gương.”
PV: Người Bí thư chi bộ năm ấy nay đã khuất. Vị Chủ tịch xã thì vẫn còn. Chính ông là người trao cho thầy giáo trẻ con dấu và hai cuốn sách ngày đầu. Ông không thạo tiếng phổ thông, chữ chỉ đủ để ký tên, nhưng lại là người tâm huyết nhất với việc góp thóc nuôi học trò. Biên bản cuộc họp không còn, nhưng chiếc hòm thóc thì chưa bao giờ đóng lại. Về sau, chủ trương của chi bộ được Hội đồng nhân dân xã cụ thể hóa thành nghị quyết hằng năm: Đảng lãnh đạo, chính quyền thực hiện, chi bộ giám sát. Và bà con Thào Chư Phìn cứ thế góp thóc, nhà không có con đi học cũng góp:
ANH SÙNG SEO CÁ: “Không có học sinh thì đóng góp là 10 cân, có một học sinh thì đóng góp là 12 cân… Nó năm nào nó ra một cái nghị quyết thì mình cứ theo cái nghị quyết đấy để góp thôi. Kể cả là hộ không có con đi học vẫn góp. Hộ không có con đi học vẫn góp mà, nhưng mà nó góp ít hơn.”
PV: Hơn ba mươi năm, đến khi chế độ của Nhà nước lo được trọn bữa ăn cho từng em, nếp góp thóc ấy mới thôi. Riêng các cháu mầm non, chế độ mới lo tiền thức ăn, nên phụ huynh vẫn góp thêm chút gạo cho bữa trưa. Ông Ký vẫn nhớ câu bà con hỏi mỗi mùa gặt:
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Dân người ta đến mùa lúa thu xong thì bà con lại bảo: ‘Năm nay có thu thóc học sinh không thì để còn nộp nhỉ?’”
PV: Ở Đảng ủy xã Sín Chéng, chuyện chuyên cần của học trò được đem ra giao ban mỗi tuần. Tỷ lệ đi học tụt một, hai phần trăm, người phụ trách phải giải trình. Ông Hoàng Trường Minh, Bí thư Đảng ủy xã, nói vì sao phải quyết liệt đến thế:
ÔNG HOÀNG TRƯỜNG MINH: “Vì là đối với một cái xã nghèo ấy, còn khó khăn như Sín Chéng ấy, mà bây giờ chúng ta không coi trọng cái việc học thì có lẽ là cái công tác giảm nghèo nó sẽ rất là khó khăn. Vì là chỉ có cái con đường học tập thì đấy mới chính là cái con đường để mà cho xã thoát nghèo được và tạo được cái nguồn nhân lực sau này.”
PV: Còn thầy Chớ, sau bao năm công tác xa bản, cũng đã trở về. Hôm nay, thầy và trò lại ngồi chung một mái nhà, ở Đảng ủy xã Sín Chéng: thầy là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra, trò là Phó Chánh Văn phòng Đảng ủy.
ÔNG HOÀNG TRƯỜNG MINH: “Nói chung là bây giờ mới thấy rằng là trong một cái môi trường công tác mà bây giờ thầy trò lại cùng công tác với nhau thì đấy cũng là một trong những cái thành công của cái công tác giáo dục… Nó lại càng gắn bó với nhau. Nó là từ cái tình đồng chí, đồng nghiệp rồi là tình thầy trò nữa.”
PV: Hơn ba mươi năm trước, nghị quyết của một chi bộ nhỏ đã giữ những đứa trẻ nghèo ở lại lớp học. Hôm nay, chủ trương của Bộ Chính trị đưa trường về tận biên giới. Và như mọi nghị quyết của Đảng, Nghị quyết 71 về đột phá giáo dục cũng khép lại bằng một dòng: “Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.”
Chi bộ. Nơi câu chuyện này bắt đầu.
Đảng quyết. Giao việc cụ thể. Làm công khai. Và dân tin.
THẦY GIÀNG SÍN CHỚ: “Giáo dục là cái móng, nền móng. Cho nên là nếu mà giáo dục mà không tốt thì sau này từ cái sự phát triển cho đến cả chất lượng, nhận thức của con người nó cũng sẽ hạn chế. Đầu tư là đầu tư có lợi đấy!”
ÔNG GIÀNG SEO KÝ: “Có những trường đấy thì mới được đi học, qua cái sự cố gắng và động viên của các thầy nhiều như thế thì cho đến ngày hôm nay mình mới trưởng thành.”
ÔNG CAO VĂN TƯ: “Ngày xưa là tự ti, ví dụ như là: ‘Ô, học cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô mà’… Bây giờ nó khác, trẻ con nó tự tin, nó vui vẻ, nó hòa nhã, rồi mặt mũi nó sáng sủa. Thế thì cái thành tựu nhận thức ấy mới tạo nên cái sức bền lâu dài.”
An Kiên/VOV Tây Bắc
Bình luận