Kiến tạo hệ sinh thái số để di sản Việt định danh toàn cầu
VOV1 - Yêu cầu cấp bách về "chuẩn hóa dữ liệu dùng chung" và "bảo hộ bản quyền di sản trên không gian số" đang đặt ra yêu cầu một hành lang pháp lý, bệ phóng cho một hệ sinh thái văn hóa số toàn diện.

Những mô hình ứng dụng công nghệ AR, 3D Mapping hay số hóa hành trình di sản tại Thăng Long – Hà Nội là minh chứng sinh động cho thấy: Công nghệ đang thổi một luồng sinh khí mới vào các giá trị truyền thống. Thế nhưng, theo thống kê, nước ta đang sở hữu một kho tàng khổng lồ với hơn 40.000 di tích và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể. Làm sao để kho tàng ấy không dừng lại ở những nỗ lực số hóa đơn lẻ, làm sao để di sản thực sự trở thành tài sản trí tuệ, thành nguồn lực phát triển cho công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo? Yêu cầu cấp bách về "chuẩn hóa dữ liệu dùng chung" và "bảo hộ bản quyền di sản trên không gian số" đang đặt ra yêu cầu một hành lang pháp lý, bệ phóng cho một hệ sinh thái văn hóa số toàn diện.

 Bảo hộ bản quyền di sản trên không gian số

Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã số hoá thành công 123 hiện vật (gồm 82 bia tiến sĩ, hoành phi, câu đối, hiện vật khai quật, chuông, khánh…) và ứng dụng nhiều công nghệ mới chiếu sáng 3D Mapping, AI, AR để giới thiệu cho du khách những trải nghiệm đa chiều về tinh hoa đạo học. Các di tích di sản phi vật thể khác cũng có nhiều cách số hoá đa dạng, nhưng chưa có sự chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung với cả kho tàng này để chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia.

TS Nguyễn Văn Tú, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hoá Khoa học Văn Miếu  – Quốc Tử Giám cho rằng, chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số đòi hỏi sự kết nối đồng bộ chuẩn hoá dữ liệu dùng chung và đặc biệt là vấn đề bản quyền trên không gian số: "Chuyển đổi số ở đây chính là sử dụng những dữ liệu chung của tất cả các nguồn chứ không phải riêng một vài di tích lẻ tẻ. Chuyển đổi số chính là cách sử dụng các dữ liệu số chứ không phải là chỉ đem số hoá một vài di tích, một vài hình ảnh, hiện vật lên. Đưa di tích lên không gian số không có biên giới, để giữ được bản quyền, bản sắc của chúng ta thì trước hết những thông tin chúng ta đưa lên phải là những thông tin đặc sắc của di tích, của văn hoá Việt Nam. Thứ hai, chúng ta phải có những phương án bảo vệ được những di tích này, bảo vệ được bản quyền của nó. Việc khai thác những dữ liệu đó chỉ khiến người ta hiểu thêm về đất nước chúng ta, văn hoá của Việt Nam, gây tò mò du khách phải đến tận nơi để trải nghiệm."

Chính phủ xác định xây dựng bản quyền di sản nói riêng hay chủ quyền văn hóa trên không gian số nói chung là nội dung hết sức quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Không gian số không chỉ là nơi đưa các giá trị văn hóa lên môi trường mạng, mà phải trở thành nơi để văn hóa Việt Nam hiện diện, được nhận biết, được yêu thích, được lan tỏa và có khả năng tham gia định hướng giá trị xã hội.

TS Trần Hậu Yên Thế, giảng viên trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐH Quốc gia Hà Nội nêu quan điểm: "Với quá trình số hoá như thế có một thách thức, nó vượt qua mọi giới hạn như vậy thì bản quyền ở đâu, định vị giá trị của chúng ta nhưng phải xác định di tích, di sản này đến từ Việt Nam, không ai có thể thay thế, thay đổi định danh về mặt nguồn gốc những di sản này. Được sự hỗ trợ công nghệ blochchain, di sản được đến tận trong lòng bàn tay của du khách. Quan trọng hơn, việc làm giàu giá trị văn hoá Việt Nam đồng nghĩa trách nhiệm phải bảo vệ nó vì những giá trị rất giàu có ấy được một hệ thống công nghệ bảo vệ, sở hữu trí tuệ cũng là một vấn đề rất nóng hiện nay."

Bảo hộ bản quyền di sản trên không gian số là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ quyền văn hoá không đơn giản là bảo vệ văn hoá truyền thống mà còn làm chủ dữ liệu, tri thức, quyền diễn giải về di sản văn hoá trên môi trường số. Hiện nay nhiều di sản văn hoá Việt Nam đã được số hoá và được lan toả trên các nền tảng số, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế. Nhưng quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức như thông tin sai lệch, thương mại hoá thiếu kiểm soát, vi phạm bản quyền, nguy cơ cộng đồng chủ thể bị tách khỏi quá trình tạo lập và khai thác di sản.

Thạc sĩ Đàm Lan, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Tri thức Cộng đồng cho rằng, để xây dựng chủ quyền văn hoá trên không gian số cần tập trung vào ba định hướng: "Thứ nhất xây dựng dữ liệu cơ sở số quốc gia về di sản và theo tiêu chuẩn thống nhất, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và khả năng kết nối chia sẻ cao. Thứ hai hoàn thiện cơ chế quản trị văn hoá trong đó xác lập rõ quyền và trách nhiệm của nhà nước cộng đồng chủ thể và tổ chức khai thác dữ liệu đồng thời tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với di sản văn hoá. Thứ ba, phát huy giá trị di sản thông qua ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng truyền thông mới phải đảm bảo tính xác thực, tôn trọng giá trị gốc, và vai trò trung tâm của cộng đồng thực hành di sản."

Đảm bảo chủ quyền văn hoá trên không gian số không phải là hạn chế chia sẻ dữ liệu mà là xây dựng năng lực quản trị dữ liệu văn hoá một cách chủ động, minh bạch và bền vững. Khi làm chủ được dữ liệu, tri thức và cách kể câu chuyện về văn hoá Việt Nam, chúng ta sẽ vừa bảo tồn hiệu quả di sản vừa nâng cao sức mạnh mềm và bản sắc văn hoá quốc gia trong kỉ nguyên số. Không chỉ xây dựng hệ thống công nghệ bảo vệ bản quyền di sản và không gian văn hoá số, theo bà Lương Thị Thanh Ngà, Giám đốc công ty TNHH tư vấn phát triển Vạn Lộc, muốn văn hóa Việt Nam có sức lan tỏa, phải kể câu chuyện Việt Nam bằng những hình thức hiện đại, hấp dẫn nhưng vẫn giữ được hồn cốt dân tộc. Khi văn hóa đủ gần gũi và sáng tạo, giới trẻ sẽ tự hào tiếp nhận và lan tỏa những giá trị ấy.

"Chủ quyền văn hóa trong thời đại số không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà sáng tạo nội dung và mỗi công dân. Khi văn hóa được nuôi dưỡng bằng công nghệ và công nghệ được dẫn dắt bởi những giá trị văn hóa Việt Nam, chúng ta sẽ không chỉ bảo tồn được bản sắc dân tộc mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh mới." - Bà  Lương Thị Thanh Ngà nhấn mạnh.

“Năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia” cũng là một trong “bốn khoảng trống” lớn cần được lấp đầy mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra tại phiên họp thứ 2 Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hoá Việt Nam để biến vốn văn hóa thành sức mạnh mềm và động lực phát triển mới của đất nước.

Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị quán triệt thêm “ba chuyển dịch lớn”, phù hợp với nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.:"Chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số. Xây dựng năng lực tự chủ về dữ liệu, nền tảng và nội dung văn hóa Việt Nam, coi đây là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia trong thời đại số, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu thêm bản sắc dân tộc."

Kiến tạo tài sản trí tuệ và khẳng định chủ quyền văn hóa

Trong môi trường số, sự cạnh tranh giữa các dòng chảy văn hóa diễn ra ngày càng mạnh. Sự giao thoa, tiếp biến văn hóa là xu thế tất yếu, tạo điều kiện để Việt Nam tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực tự chủ, khả năng định hướng và sức đề kháng của nền văn hóa dân tộc.

Các sản phẩm văn hóa có lợi thế về công nghệ, nền tảng và khả năng phân phối toàn cầu đang tác động sâu rộng đến nhận thức, thị hiếu, lối sống, nhất là đối với thế hệ trẻ. Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045, với mục tiêu đầy tham vọng: đưa Việt Nam vào Top 30 thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm quốc gia. Chiến lược nhấn mạnh việc xây dựng hệ sinh thái truyền thông số quốc gia, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo trong quảng bá hình ảnh.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Ủy ban Văn hóa – Xã hội của Quốc hội cho rằng truyền thông quốc gia đang bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới: "AI và dữ liệu lớn giúp cho nhà nước và các chủ thể tham gia quảng bá hình ảnh quốc gia của chúng ta làm 3 việc quan trọng là đúng người, đúng lúc và đúng cách. Nhưng ở đây tôi cũng muốn nói thêm công nghệ là công cụ thôi, cái quyết định vẫn là nội dung có giá trị, nội dung có cảm xúc, có sự thật và có chuẩn mực. Một hệ sinh thái số quốc gia chỉ mạnh khi được nuôi dưỡng bởi một đội ngũ sáng tạo nội dung đa ngôn ngữ, am hiểu văn hoá quốc tế và có đạo đức nghề nghiệp trong môi trường số. Các nền tảng số xuyên biên giới là các mạng xã hội quốc tế giúp cho chúng ta tiếp cận công chúng toàn cầu theo cách đi thẳng vào đời sống nhanh hơn, rẻ hơn và có khả năng lan toả theo cộng đồng đặc biệt là với giới trẻ."

Chính vì vậy tận dụng nền tảng số hiệu quả là cách chúng ta đang cá nhân hoá câu chuyện Việt Nam, kể bằng những gương mặt con người, bằng hành trình, trải nghiệm thật đa ngôn ngữ, đa định dạng (các video ngắn, podcast, game, AI, AR du lịch). Ông Cao Lê Tuấn Anh, Chánh Văn phòng, người phát ngôn, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch cho biết: "Liên quan đến năng lực sáng tạo các sản phẩm có khả năng thương hiệu quốc gia và có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Còn hạn chế thì chúng ta cần phải có một cái khung khổ pháp lý, một hành lang để thúc đẩy cái sự sáng tạo, có sự phối hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, những chủ thể sáng tạo, cá nhân sáng tạo… Ngành văn hóa sẽ cụ thể hóa thành những đề án, những chương trình và nội dung rất cụ thể kèm theo lộ trình thực hiện để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin tưởng giao phó cho ngành văn hóa cũng như nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa giao cho Bộ Văn hóa."

Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt mục tiêu phấn đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026. Đây là khối lượng công việc rất lớn và thời gian còn rất ngắn. Tuy nhiên, một di sản không thể được coi là đã số hóa chỉ vì đã được chụp ảnh, quét tài liệu hoặc đưa lên một trang thông tin mà cần phải hướng tới việc kiến tạo tri thức số và tài sản trí tuệ quốc gia. Mỗi bộ dữ liệu, mỗi di sản số hóa cần được định vị như một nguồn tài sản đặc biệt, có khả năng sinh lợi bền vững trên cả ba phương diện: khoa học, văn hóa và kinh tế. Để tối ưu hóa nguồn lực này, ngoài việc khẩn trương hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo hộ, quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ đối với di sản số, cần xây dựng cơ chế phân bổ lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, giới nghiên cứu và doanh nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ việc đưa chất liệu văn hóa Việt vào các ngành công nghiệp sáng tạo như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, game, du lịch... để dòng chảy di sản không ngừng được tái sinh, lan tỏa và tạo ra những giá trị mới trong đời sống đương đại./.

 

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận