Ở Sơn La, tinh thần Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được người nông dân cụ thể hóa bằng những cách rất gần gũi. Không phải những công nghệ xa lạ mà là giống cây mới, kỹ thuật mới, một chiếc điện thoại thông minh, một mã QR hay một cách bán hàng mới. Tất cả hướng đến một mục tiêu rất cụ thể: làm ra sản phẩm tốt hơn, nâng giá trị nông sản và mở rộng thị trường cho người sản xuất.
Bài 2: Những “nhà nông thời 5.0” trên rẻo cao biên giới.
Ghép giống cây, thay cách làm, thu tiền tỷ
Tiếng bước chân trên nền cỏ cùng nền trò chuyện cùng ông Đinh Văn Vân – một nông dân ở xã Phiêng Khoài, Sơn La:
Ông Vân: Đây là toàn bộ nhà máy sản xuất phân bón mini này (tiếng tay trên nền cỏ), ngày xưa là cứ vạc cỏ đi đến khô cả đất, chai cứng cả ra… Còn bây giờ có cỏ, nền đất rất xốp, độ PH rất ổn định.
PV: Rất tốt cho trồng cây cam này?
Ông Vân: Đúng rồi, rất phù hợp. Người ta gọi cái cỏ này là cỏ rau trai, trồng để giữ thảm vi sinh dưới đất này này...
PV: Ông học trên mạng hay ở đâu?
Ông Vân: Đấy, xem rồi nói chuyện với một số anh em trên mạng người ta hướng dẫn rồi về mình làm thôi !
Đây là một trong những vườn cây ăn quả ở xã Phiêng Khoài, Sơn La, mà chỉ hơn 1 tháng nữa thôi sẽ thu tiền tỷ.
Trên cành, những trái cam navel (hay còn gọi là cam rốn lồi), ít hạt, ngọt thanh, mọng nước... đang chờ thu hái. Dưới gốc, “nhà máy sản xuất phân bón” và hệ thống tưới tự động đang vận hành, đưa nước và dinh dưỡng đến từng cây.
Đó là sản phẩm của ông Đinh Văn Vân, ở bản Cồn Huất, xã Phiêng Khoài, Sơn La, sau 5 năm trời, từ ngày quyết định đổi giống, ghép cây, thay cách làm...
Ông Vân: Xưa mình trồng mận, thấy mận bão hòa thì mình đi trồng bưởi. Cây bưởi lại thất bại, thì mình khắc phục, sửa sai bằng ghép với cam, mà may mắn ghép được đúng cái giống này chuẩn này. Tôi về Mộc Châu, gặp người đầu tiên nhân ghép ra giống cam ly này, ăn thử thấy rất ngon nên tôi mua giống về ghép thử...
PV: Mình có từng nghĩ nó sẽ không thành công không?
Ông Vân: Xưa cũng không nghĩ là được chất lượng như này. Đầu tiên chỉ ghép có chục cây thôi vì giống cũng đắt đỏ. Thế rồi 2 năm sau thấy sản phẩm quá hợp đất trên này nên tôi nhân rộng mô hình, quyết định làm hết trên diện tích này luôn...
PV: Lúc đầu quyết định làm giống cam này ông có gặp gì khó không?
Ông Vân: Cái trở ngại nhất là trong gia đình, vợ chồng không thuận hòa, không muốn thay đổi, không nghĩ là được thành công như ngày hôm nay. Vợ tôi không muốn thay đổi cách làm, vì nghĩ là làm cây có múi khó, mình không làm được.
PV: Thế ông thuyết phục vợ thế nào để đồng ý thay đổi cách làm?
Ông Vân: À nhìn thấy sản lượng hằng năm, giá trị kinh tế, thu nhập... thì bây giờ cô ủng hộ hoàn toàn rồi. Mọi năm chưa được thu nhiều, khoảng 30-40 tấn thôi, nhưng càng ngày cây nó to lên thì càng được nhiều, năm nay dự tính hơn 50 - 55 tấn... chắc được khoảng 2,5 tỷ đồng.
2 tỷ rưỡi, trừ chi phí cũng thu lãi khoảng 2 tỷ đồng, đó là trái ngọt của gia đình ông Đinh Văn Vân sau nhiều năm bền bỉ, kiên trì với từng gốc cam. Đặc biệt là từ khi ông quyết tâm thay đổi quy trình sản xuất và từng bước làm chủ kỹ thuật.
Ông Vân: Khi đi đến đoạn đường này rồi ngoảnh lại mới thấy là xưa nay mình không có kiến thức về nó thôi. Cái cây cam nói riêng, cây có múi nói chung phải chăm sóc hữu cơ và áp dụng kỹ thuật, hệ thống nước tưới phải đầy đủ.
PV: Khi mà đầu tư hệ thống tưới ẩm này chắc hẳn rất tốn kém, nhưng vì sao mình quyết tâm làm?
Ông Vân: Vì mình cũng đi học hỏi, biết cây cam này đòi hỏi khắt khe, hệ thống tưới tiêu phải tốt thì mới có giá trị, chất lượng, độ PH trong đất mới ổn định. Thứ nhất nó bền cây, hai là chất lượng rất ổn, trên cùng một cây sản phẩm ngọt như nhau chứ không quả chua quả ngọt, mà năng suất hằng năm mới đều.
Hằng năm là có thu tiền tỷ. Đến bây giờ nhiều khi ở trên này không muốn về nhà ấy, vui (cười)
Nhìn thành quả của mình như này là phấn khởi rồi…
Khi khoa học, công nghệ thay thế “ông trời”
Trong khi vườn cam của ông Vân đang chờ mùa thu hái, những quả hồng da tre của nhà vườn Sơn Nga ở xã Phiêng Khoài đã đến tay khách hàng.
Tôi là Đinh Thị Nga, chủ Nhà vườn Sơn Nga. Cây hồng da tre của nhà tôi 8 năm tuổi thì năm nay được 50 cân quả, chúng tôi bán quả VIP là 80.000 đồng. Hàng xô bình quân từ 40.000- 60.000 đồng/kg...
Phía sau những trái hồng vuông vắn, to đều, ngọt thơm, được giá, là bàn tay cần cù, sáng tạo và bài toán khoa học, công nghệ được áp dụng bài bản trong sản xuất... Bức tranh nông nghiệp thông minh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao càng được khắc hoạ rõ nét từ câu chuyện ấy:
Chị Nga: So với ngày xưa làm thủ công là trông tất vào ông trời hoặc tưới tay, thì tưới tự động này rất hiệu quả; giúp giảm nhân công và điều tiết được lượng nước, nhất là khi khô hạn, gặp thời tiết bất lợi, đảm bảo mùa màng, giảm rủi ro.
Không chỉ với hệ thống tưới, phân bón hữu cơ và kỹ thuật bao trái cũng được áp dụng:
"Còn bao trái thì tất cả mình bao hết, để tránh các tác động xấu của thời tiết như mưa đá, hay ruộng bên họ có phun làm bay hơi thuốc hóa học sang thì quả của nhà đã được bao bọc bởi lớp xốp cách nhiệt, lớp ni lông rồi, hoàn toàn vô hại, ko làm sao hết; với vùng Phiêng Khoài nhiều rùa vàng, hay các con phá hoại mùa màng, như con ong cũng không châm được nữa… Và như vậy nó mới đạt được những quả hàng mà hoàn chỉnh đến tay khách hàng.
Mỗi sản phẩm khi rời khỏi vườn đều có tem truy xuất:
Mình làm tem không phải để quảng cáo, mà để gắn trách nhiệm với người tiêu dùng. Vì trên tem sản phẩm chỉ cần quét mã là sẽ hiển thị tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại rồi, nên có phản hồi gì, tích cực hay tiêu cực họ trực tiếp phản hồi với mình. Có cả trang Fanpage Nhà vườn Sơn Nga và được kết nối cả nước. Nhiều đơn đặt như quà biếu, khách sỉ là họ vào Fanpage nhà vườn đặt rất nhiều.
Từ chỗ phụ thuộc nhiều vào thương lái, nhà vườn có thêm một cách tiếp cận khách hàng: xây dựng thương hiệu, đưa sản phẩm lên mạng và chủ động nhận đơn hàng.
Từ vườn cây đến phiên livestream mộc mạc
Tiếng Chị Liên giới thiệu hàng tại vườn trên livestream:
“Xin chào mọi người, đây là vườn nho mẫu đơn ở Lóng Phiêng…”
Không phòng thu, không thiết bị cầu kỳ, những phiên livestream của chị Trần Thị Liên - Phó Giám đốc HTX Khánh Dương, xã Lóng Phiêng được thực hiện ngay giữa vườn.
Tiếng video quảng cáo sản phẩm quả của chị Liên...
Chị Liên: HTX mình thường quay video, chụp quá trình từ chăm sóc đến thu hái, đến đóng gói sản phẩm rồi gửi sản phẩm. Mình học cách xây dựng video quảng cáo trên Facebook, khi đăng tải được rất nhiều bạn hàng và mọi người chia sẻ, tạo được lòng tin của người tiêu dùng.
Ban đầu, đứng trước máy quay không phải là việc dễ dàng:
Lúc đầu mình cũng rất là ngại, ngại đứng trước máy quay, cũng không biết phải nói gì. Sau nhiều lần mình thấy nhiều người khác cũng làm, họ còn nhiều tuổi hơn mình mà vẫn làm được nên mình cũng cố gắng quyết tâm hơn. Vì mong muốn của mình là đưa sản phẩm của địa phương đến nhiều người hơn và khẳng định nó, nên cứ quyết tâm thế… Thực sự đến bây giờ chưa được hoàn hảo đâu, nhưng mình cũng thấy ổn hơn những ngày đầu, tự tin hơn.
Sau những lần mạnh dạn thử sức, hiệu quả bắt đầu rõ hơn:
Mình thấy hiệu quả nhất là mình giới thiệu được nhiều hơn, có nhiều khách hàng hơn, thuận lợi cho việc mua bán hơn. Như ngày trước mình phải đi tìm khách hàng rất vất vả, bây giờ mình khẳng định được thương hiệu rồi thì nhiều sản phẩm của hợp tác xã mình cũng như địa phương được khách hàng tự tìm đến mua. Đây mình nghĩ là thành công lớn nhất khi áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số vào sản xuất.
Chiều xuống trên những vườn cây trái, người nông dân vẫn tiếp tục những công việc quen thuộc: chăm cây, hái quả, đóng hàng, chốt đơn, … Nhưng phía sau những công việc tưởng như rất đỗi bình thường ấy là một cách nghĩ mới.
Từ việc giữ lớp cỏ tự nhiên làm “nhà máy sản xuất phân bón mini”, đầu tư hệ thống tưới để giảm phụ thuộc vào thời tiết; đến bao trái, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và livestream bán hàng. Đó là những cách mà người nông dân vùng cao Sơn La đang tự đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất.
Và khi công nghệ tạo ra sản phẩm tốt hơn, giảm rủi ro, mở rộng thị trường, tăng thu nhập, thì Nghị quyết 57 đã bắt đầu có một thước đo rất cụ thể: giá trị được tạo ra trong chính cuộc sống của người dân./.
Từ cán bộ cơ sở đến người nông dân, công nghệ đang từng bước đi vào công việc và sản xuất ở Sơn La. Nhưng để những cách làm như ở Chiềng Sung, Phiêng Khoài hay Lóng Phiêng có thể nhân rộng, vẫn còn những “nút thắt” cần tháo gỡ.
Đó là thiếu cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin, chuyển đổi số; là những cán bộ cơ sở phải mang “2 vai” trách nhiệm; là trang thiết bị chưa đồng bộ và những vùng còn “lõm” sóng. Để Nghị quyết 57 đi từ những mô hình riêng lẻ đến một nền tảng phát triển rộng hơn, Sơn La cần làm gì? Câu chuyện ấy sẽ được nhóm phóng viên CQTT khu vực Tây Bắc đề cập trong bài cuối của loạt phóng sự.
Bình luận