Hợp tác trong khuôn khổ APEC góp phần mở rộng quan hệ thương mại, đầu tư và kết nối Việt Nam với các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương. Quá trình hội nhập tạo cơ hội để doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, năng lực quản trị và sức cạnh tranh.
Từ búp chè đến câu chuyện nguồn gốc xuất xứ
Tại xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Chè sạch Đạt Phát có vùng nguyên liệu 20 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Theo anh Vũ Thành Thơm, Giám đốc Hợp tác xã, truy xuất nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý ngày càng quan trọng trong việc tạo dựng niềm tin với khách hàng.
“Các mặt hàng sau này theo tôi nghĩ sẽ phải truy xuất được nguồn gốc. Chỉ dẫn địa lý chính là một trong những cơ sở để chứng minh nguồn gốc sản phẩm. Từ khâu chăm bón, sản xuất cho đến chất lượng đều phải đáp ứng các yêu cầu nhất định, trong đó diện tích được cấp chỉ dẫn địa lý phải đạt tiêu chuẩn VietGAP. Đây cũng là cơ sở để khách hàng tin tưởng hơn vào sản phẩm của hợp tác xã.”
Với nhà nhập khẩu, chất lượng sản phẩm không chỉ thể hiện qua hương vị mà còn ở khả năng chứng minh vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình, bảo đảm an toàn thực phẩm và duy trì chất lượng đồng đều. Vì vậy, truy xuất nguồn gốc cần đi cùng kiểm nghiệm và các tiêu chuẩn nhập khẩu phù hợp với từng thị trường.
Tiêu chuẩn – điều kiện để bước vào thị trường
Một sản phẩm được ưa chuộng trong nước chưa chắc đã đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu. Với mặt hàng chè, doanh nghiệp cần quan tâm đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm, quy trình chế biến, bảo quản và nhãn hàng hóa. Xác định đúng thị trường mục tiêu giúp doanh nghiệp đầu tư tiêu chuẩn phù hợp, tránh phát sinh chi phí không cần thiết.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản đã cho thấy khả năng nâng cao giá trị khi đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế. “Nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản như cà phê, hồ tiêu, khi đáp ứng các tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn chất lượng cao của những thị trường khó tính như châu Âu hay Nhật Bản, giá trị sản phẩm có thể tăng lên gấp nhiều lần”.
Tuy nhiên, ông Tuấn cũng thừa nhận, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ vững để chuyển đổi các tiêu chuẩn cho phù hợp với thế giới. Quy mô nhỏ khiến doanh nghiệp gặp khó trong đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp vận hành theo mô hình gia đình, thiếu minh bạch và chưa đạt chuẩn quản trị hiện đại.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Anh Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu tổng hợp và hội nhập quốc tế tại Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, thuộc Ban nghiên cứu chính sách và chiến lược Trung ương cho rằng:
“Không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện và nguồn lực. Các doanh nghiệp lớn có thể làm được, nhưng với doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có nhiều kinh nghiệm, ngoài việc tham gia hoạt động của cộng đồng doanh nhân để lắng nghe chia sẻ từ người đi trước, họ cũng nên tìm hiểu các cơ chế của APEC. Nếu doanh nghiệp quan tâm đúng mức đến các hoạt động nâng cao năng lực của APEC do cơ quan Việt Nam triển khai, họ sẽ có nhiều cơ hội kết nối với chuyên gia, đại diện cơ quan quản lý và doanh nghiệp của các nền kinh tế thành viên.”
Những hạn chế này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và đầu tư có trọng tâm để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
APEC: Mở rộng không gian kết nối cho doanh nghiệp Việt
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, hợp tác APEC mở ra cơ hội tăng cường kết nối thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với doanh nghiệp Việt Nam, lợi ích không chỉ nằm ở việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mà còn ở khả năng tiếp cận nhà mua hàng, nhà đầu tư, nhà cung ứng và đối tác công nghệ trong khu vực.
Doanh nghiệp nông sản có thể tìm kiếm đối tác phân phối, chế biến hoặc cung cấp công nghệ bảo quản; trong khi doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có cơ hội trở thành nhà cung ứng cho các nhà sản xuất trong khu vực, từng bước nâng cao năng lực kỹ thuật và gia tăng giá trị sản phẩm. Ông Larry Hu, Giám đốc điều hành Amazon Global Selling khu vực Đông Nam Á, nhận định:
“Chúng ta đang nói về cả sự thay đổi trong tư duy lẫn thay đổi mô hình kinh doanh xuất khẩu: Làm thế nào để một cộng đồng rộng lớn hơn có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu; và làm thế nào để các nhà xuất khẩu, nhà sản xuất có thể xây dựng thương hiệu riêng và nâng tầm giá trị sản phẩm của họ. Đó chính là sự đổi mới mà chúng ta đang thấy tại Việt Nam.”
Dù vậy, cơ hội kết nối chỉ tạo ra giá trị khi doanh nghiệp đủ năng lực đáp ứng yêu cầu đối tác. Chất lượng ổn định, khả năng cung ứng, tiến độ giao hàng và tiêu chuẩn phù hợp là những yếu tố quyết định khả năng duy trì hợp tác lâu dài.
Do đó, doanh nghiệp cần chủ động tận dụng các cơ chế hợp tác và chương trình kết nối trong APEC để cập nhật thông tin thị trường, tìm kiếm đối tác và nắm bắt xu hướng chuỗi cung ứng. Các hiệp hội ngành hàng, tổ chức xúc tiến thương mại và cơ quan quản lý cũng cần hỗ trợ cung cấp thông tin, hướng dẫn tiêu chuẩn và thúc đẩy kết nối thực chất, từ gặp gỡ đối tác đến thử nghiệm sản phẩm và tiến tới hợp đồng thương mại.
Hợp tác APEC không tự động bảo đảm thành công, nhưng có thể mở rộng cánh cửa để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào mạng lưới kinh doanh khu vực. Biến cơ hội thành lợi thế bền vững phụ thuộc vào khả năng đổi mới, nâng cao chất lượng và xây dựng năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp.
Bình luận