APEC 2027: Doanh nghiệp thủy sản kỳ vọng những cơ hội kết nối mới
VOV1 - Các nền kinh tế APEC hiện chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam, trong đó có những thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc

 

 

Khi Việt Nam chuẩn bị đăng cai Năm APEC 2027, cộng đồng doanh nghiệp thủy sản kỳ vọng có thêm cơ hội mở rộng thị phần, kết nối đối tác và tiếp cận công nghệ. Phóng viên Thu Hoài trao đổi với ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), về những kỳ vọng và thách thức đối với ngành thủy sản.

PV: Thưa ông, các nền kinh tế APEC hiện có vai trò như thế nào đối với xuất khẩu thủy sản Việt Nam? Những thị trường và sản phẩm nào đang thể hiện rõ nhất thế mạnh của ngành?

Trong số 20 nền kinh tế APEC cùng với Việt Nam, các thị trường này hiện chiếm khoảng 78–80% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta. Trong đó, có 10 thị trường nhập khẩu lớn, nổi bật là Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Thái Lan. Đặc biệt, trong hai năm trở lại đây, Trung Quốc nhập khẩu trung bình khoảng 2–2,2 tỷ USD thủy sản Việt Nam mỗi năm. Với mức tăng trưởng hơn 30% trong năm nay, chúng tôi dự báo kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này có thể tiến gần 3 tỷ USD.

Về sản phẩm, hầu hết các nền kinh tế APEC đều nhập khẩu những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh sản xuất và cung ứng. Nổi bật nhất là tôm, bao gồm tôm sú, tôm thẻ chân trắng và trong những năm gần đây là tôm hùm xuất khẩu sang Trung Quốc.

Sản phẩm thứ hai là cá tra, với kim ngạch xuất khẩu trung bình khoảng 1,8–2 tỷ USD mỗi năm, trong đó các thị trường APEC chiếm tỷ trọng chủ yếu. Bên cạnh đó, những sản phẩm khai thác biển như cá ngừ, mực, bạch tuộc và surimi cũng có nhu cầu cao tại khu vực.

PV: Từ thực tiễn doanh nghiệp, ông có thể chia sẻ một câu chuyện tiêu biểu về việc thủy sản Việt Nam tạo dựng chỗ đứng tại thị trường APEC? Đâu là những yếu tố quyết định thành công?

Tôi muốn đề cập đến câu chuyện tôm hùm xuất khẩu sang Trung Quốc. Đây là thị trường có nhu cầu rất lớn đối với sản phẩm này, nhưng các quy định nhập khẩu cũng khá nghiêm ngặt. Chúng ta đang có  2 dòng tôm hùm, trong đó một dòng đang trong quá trình đàm phán giữa hai chính phủ. Tuy nhiên, đối với dòng sản phẩm còn lại, tôi muốn nhấn mạnh đây là câu chuyện thành công gắn với nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi tôm hùm tại khu vực miền Trung.

Trong ba năm vừa qua, xuất khẩu tôm hùm đã tăng trưởng đáng kể, từ khoảng 200–300 triệu USD  lên khoảng 800 triệu USD vào năm ngoái. Tôi cho rằng thành công này đến từ việc tập trung vào quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đặc biệt là khả năng cung ứng. Đây là những yếu tố quan trọng giúp chúng ta đưa sản phẩm đến những thị trường có nhu cầu lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu rất cao.

PV: Các tiêu chuẩn nhập khẩu và rào cản thương mại ngày càng gia tăng. Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam?

Hiện nay, các thị trường như Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Australia ngày càng đặt ra những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn. Ngoài các yêu cầu về an toàn thực phẩm, trách nhiệm môi trường, trách nhiệm xã hội và truy xuất nguồn gốc, một số thị trường APEC như Australia và Hàn Quốc còn có những quy định chặt chẽ về kiểm dịch.

Bên cạnh những tiêu chuẩn kỹ thuật, các vấn đề về thuế cũng nổi lên trong những năm gần đây, đặc biệt tại thị trường Mỹ, đối với hai mặt hàng chủ lực của Việt Nam là tôm và cá tra.

Các biện pháp phòng vệ thương mại, trong đó có điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp, cùng những chính sách thuế mới, đang tạo thêm thách thức đối với doanh nghiệp. Đây là những yếu tố có thể tác động trực tiếp đến khả năng xuất khẩu, ngay cả khi sản phẩm đã đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chứng nhận bền vững.

PV: Nhiều sản phẩm thủy sản Việt Nam vẫn mang nhãn hiệu của nhà nhập khẩu nước ngoài. Theo ông, cần nhìn nhận thực tế này như thế nào?

Phần lớn sản phẩm được bán dưới nhãn hiệu của nhà nhập khẩu hoặc hệ thống phân phối, bởi chính họ là những đơn vị trực tiếp kinh doanh sản phẩm tại thị trường sở tại, dù dưới hình thức bán buôn hay bán lẻ. Vì vậy, ngay cả những sản phẩm chất lượng cao của các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam, khi muốn tham gia vào những hệ thống phân phối đó, thường cũng phải chấp nhận sử dụng nhãn hiệu của đối tác.

Đây là thực tế của chuỗi cung ứng quốc tế. Chúng ta không thể một sớm một chiều yêu cầu các nhà bán lẻ nước ngoài chấp nhận kinh doanh sản phẩm mang thương hiệu của một doanh nghiệp Việt Nam.Các doanh nghiệp Việt Nam rất mong muốn đưa tên tuổi, thương hiệu sản phẩm của mình đến với người tiêu dùng thế giới, nhưng quá trình này cần có thời gian. Không thể từ việc sản phẩm mang nhãn hiệu của nhà nhập khẩu mà kết luận doanh nghiệp Việt Nam còn yếu hoặc chất lượng sản phẩm chưa tốt. Riêng Thủy sản, chúng ta đang đứng thứ 3 về nguồn cung trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Nauy

PV: Việt Nam đăng cai Năm APEC 2027. Từ góc độ doanh nghiệp, ông kỳ vọng những cơ hội hợp tác nào và cần làm gì để mang lại kết quả thiết thực?

Chúng tôi có nhiều kỳ vọng đối với Năm APEC 2027, bởi trong số các nền kinh tế APEC có năm thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Vì vậy, nếu có thêm cơ hội kết nối, chúng ta sẽ có thêm dư địa mở rộng thị phần, tăng lượng hàng xuất khẩu và tạo thêm việc làm.

Chúng tôi mong muốn Chính phủ, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành quan tâm tổ chức thêm những chương trình kết nối kinh tế dành cho các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, để hiệp hội và doanh nghiệp có thể tiếp cận những chương trình làm việc cụ thể trong khuôn khổ APEC.

Riêng đối với APEC 2027, tôi mong muốn có những hoạt động dành riêng cho các ngành hàng chủ lực của Việt Nam, tạo điều kiện kết nối với doanh nghiệp và các đối tác trong khu vực.

Trước hết là kết nối thị trường, thông qua các hội chợ thủy sản lớn tại những nền kinh tế APEC, giúp doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tham gia, gặp gỡ bạn hàng và mở rộng quan hệ hợp tác.

Thứ hai là kết nối công nghệ. Việt Nam có những thế mạnh nhất định, nhưng cũng rất cần tiếp cận và chia sẻ công nghệ từ các nền kinh tế APEC.

Đây là những hoạt động có thể triển khai ngay để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản Việt Nam thông qua hợp tác trong khu vực.

PV: Xin cảm ơn ông!

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận