Nghị quyết 70-NQ/TW: Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng năng lượng - Nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn
VOV1 - Nghị quyết 70-NQ/TW hoạch định, đến năm 2030 tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi. Riêng tổng công suất các nguồn điện đạt khoảng 183-236 GW (hoặc có thể cao hơn tuỳ thuộc vào nhu cầu hệ thống và tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo thời kỳ).

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII đã xác định trong giai đoạn cách mạng mới, tiếp tục tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược; trong đó “tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng công nghệ và hạ tầng năng lượng”.

Ngày 20/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (thay thế Nghị quyết số 55, ngày 11/2/2020). Nghị quyết 70-NQ/TW khẳng định: Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong thời gian tới, nhất là thực hiện 2 mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và 2045, công tác bảo đảm an ninh năng lượng có vai trò rất quan trọng, năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.

Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quốc hội Khoá 15 cũng đã thông qua Nghị quyết số 253 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, có hiệu lực từ 1/3/2026. Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 70-NQ/TW. Các định hướng chiến lược này sẽ được chúng tôi đi sâu phân tích trong loạt bài 3 kỳ: “Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị: Hiện thực hoá mục tiêu hoàn thiện hạ tầng năng lượng đồng bộ và đột phá mạnh mẽ”.

Bài 1: “Hoàn thiện hạ tầng năng lượng - nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn”.

“Đối với Nghị quyết 70-NQ/TW mục tiêu cốt lõi là hệ thống năng lượng phải an toàn, ổn định, có dự phòng tin cậy, cung cấp đủ cho sản xuất và đời sống, chuyển dịch theo hướng xanh, phát thải thấp, vận hành thông minh trên nền tảng số và đảm bảo chi phí hợp lý, minh bạch. Từ nay đến năm 2030 chúng ta phân đấu dự phòng công suất tối thiểu 15%, giảm tổn thất điện năng đáng kể và tăng tỷ lệ năng lượng sạch phù hợp với quy hoạch và xây dựng các cơ chế thị trường điện cạnh tranh, minh bạch, có lộ trình vững chắc”. Những “mục tiêu cốt lõi” của Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện 4 nghị quyết của Bộ Chính trị sáng 16/9/2025.

Nghị quyết 70-NQ/TW hoạch định, đến năm 2030 tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi. Riêng tổng công suất các nguồn điện đạt khoảng 183-236 GW (hoặc có thể cao hơn tuỳ thuộc vào nhu cầu hệ thống và tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo thời kỳ). Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25-30%... Nội dung Nghị quyết chỉ rõ: “phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng”.

Nhìn lại thực tế, hiện nay, tổng công suất đặt nguồn điện của hệ thống điện Quốc gia có 91GW (91.000 MW). Việc tăng công suất nguồn điện lên gấp 2 - 2,5 lần trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2030 là thách thức không nhỏ - trong khi đủ điện, với chất lượng điện ổn định, nguồn điện xanh, sạch, đáp ứng các yêu cầu của thời đại là mong muốn, đòi hỏi của cộng đồng doanh nghiệp, như chia sẻ của ông Nguyễn Văn Đạt - PGĐ Nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên: "Điều mong muốn nhất của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp công nghiệp nặng như chúng tôi thì việc sử dụng được nguồn điện ổn định, không bị gián đoạn cũng như chất lượng tốt thì nó có lợi rất nhiều. Khi nguồn điện xảy ra sự cố, rủi ro thì gây thiệt hại về vật chất cũng như thiệt hại về sản xuất kinh doanh rất là lớn". Nhất là với các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu vào các thị trường lớn, áp dụng các tiêu chuẩn cao về chất lượng và môi trường, như chia sẻ của ông Nguyễn Hoài Nam - Tổng thư ký Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP): "Các khách hàng các nhãn hàng lớn ở châu Âu và Mỹ khi mà một nhà máy có hướng chuyển tích cực sang năng lượng sạch thì là một điểm cộng cho vấn đề để thương thảo hợp đồng".

Căng thẳng, thậm chí thiếu điện cục bộ đã từng xảy ra ở nhiều địa phương khu vực miền Bắc trong một số thời gian cao điểm mùa khô những năm gần đây và luôn là áp lực trong đảm bảo điện khi tỷ lệ nguồn điện phụ thuộc vào thời tiết khá lớn (như thuỷ điện, nay thêm nguồn điện gió, điện mặt trời). “Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ” đã được Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ ra và nhấn mạnh: phải “phát triển nguồn điện cân đối, hợp lý theo lợi thế vùng, miền, địa phương, hướng tới cân bằng cung - cầu nội vùng…”.

Để đạt tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần phát triển song song cả động lực truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và các động lực mới như kinh tế số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh,… trong đó, coi trọng thu hút nguồn lực đầu tư vào công nghệ cao (chip bán dẫn, AI). Một trong những điều kiện tiên quyết đặt ra là hoàn thiện các cơ sở hạ tầng thiết yếu (giao thông - công nghệ - năng lượng).

Dưới góc độ chuyên gia kinh tế ngành, TS. Đặng Thị Thu Hoài - Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhìn nhận: "Bán dẫn và AI có nhu cầu sử dụng điện rất cao, không chỉ là lượng điện mà chất lượng điện cũng phải đảm bảo. Tôi chỉ lấy một ví dụ thôi: theo ước tính của Tổ chức năng lượng thế giới, Google mà tăng AI lên trong thời gian tới thì nhu cầu về điện của họ phải tăng gấp 10 lần. Và đặc biệt là chất lượng điện, như một số công ty TMSC của Đài Loan (Trung Quốc) thì yêu cầu về điện - nếu chất lượng điện không ổn định thì cũng ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm, ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng của ngành đó. Cho nên tôi cho rằng đây là một thách thức rất lớn đối với ngành điện, việc đáp ứng nhu cầu về điện cũng như là chất lượng điện trong thời gian tới đặt ra rất là cao".

Từ thực tế vận hành của hệ thống điện Việt Nam trong giai đoạn 5 năm vừa qua, chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh (Liên Hiệp các Hội KHKT Việt Nam) cho rằng, việc phát triển hạ tầng năng lượng phải dựa trên các yếu tố đặc thù; ưu tiên phát triển năng lượng mới, tái tạo, xanh, sạch, nhưng cũng phải linh hoạt, đồng bộ giữa đầu tư với nhu cầu sử dụng và phải có tính dự báo cao trước sự biến động của nhu cầu sử dụng. "Mặc dù Quy hoạch điện cũng đã đưa ra các dự báo liên quan đến nhu cầu sử dụng điện của các vùng, khu vực, tuy nhiên, trong giai đoạn tác động ảnh hưởng của đại dịch Covid thì nhu cầu sử dụng điện lại có sự biến động giảm đi; Sau đó, khi qua giai đoạn Covid thì nhu cầu điện trở lại rất là lớn trong giai đoạn phục hồi. Có nghĩa là ngành điện vừa phải có tính linh hoạt và tính đồng bộ. Ví dụ như vừa qua xây dựng rất nhiều dự án nguồn điện tái tạo (điện mặt trời,điện gió) nhưng lại chưa xây kịp lưới điện để truyền tải, đưa điện vào sử dụng, thì việc đầu tư vào các dự án nguồn điện này lại trở nên là bị lãng phí. Cho nên tính đặc thù và thách thức của ngành điện rất là lớn, đòi hỏi phải có sự quan tâm, phối hợp một cách đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các bên tham gia" - ông Hà Đăng Sơn nhìn nhận.

Cùng với coi trọng đầu tư, Nghị quyết 70-NQ/TW cũng nhấn mạnh tới việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng - là một giải pháp quan trọng góp phần đảm bảo điện cũng như giảm phát thải ra môi trường. Cụ thể, theo Nghị quyết 70-NQ/TW, tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 8-10%; Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường khoảng 15-35%. Ông Nguyễn Thế Hữu - Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương nêu vấn đề: "Việc đảm bảo cung cấp điện không phải là công việc của riêng ngành điện, một doanh nghiệp điện lực như EVN hay đơn vị nào mà là công việc chung của tất cả. Mỗi khách hàng, nhất là các doanh nghiệp có thể tham gia vào quá trình cân bằng cung cầu điện năng và có vai trò nhất định của mình trong việc cân bằng cung cầu trong hệ thống điện".

Theo TS. Võ Thành Phong - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đánh dấu bước tiến mới so với Nghị quyết 55-NQ/TW trước đây và các Chiến lược năng lượng cũ. Nếu Nghị quyết 55-NQ/TW tập trung vào định hướng chiến lược phát triển năng lượng với mục tiêu đặt ra về đáp ứng nhu cầu, đa dạng hóa nguồn cung và giảm cường độ năng lượng thì Nghị quyết 70-NQ/TW nhấn mạnh "chuyển dịch năng lượng kép" - vừa đảm bảo an ninh năng lượng vừa thúc đẩy xanh hóa, với trọng tâm là giảm phát thải thấp và tích hợp công nghệ số. Nghĩa là, chuyển từ "cung ứng năng lượng" sang "an ninh năng lượng", nhấn mạnh tính bền vững và công bằng, giúp cân bằng tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, phù hợp với cam kết Net Zero (đưa phát thải ròng về 0 vào năm 2050).

Năng lượng - nguồn đầu vào thiết yếu cho mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Để công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì năng lượng “phải đi trước một bước”. Việc hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ hạ tầng năng lượng được dự báo sẽ mở ra cơ hội phát triển các ngành công nghiệp, gia tăng tỷ lệ nội địa hoá và hình thành chuỗi giá trị trong nước. Nội dung này sẽ được đi sâu phân tích trong bài 2 của loạt bài “Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị: Hiện thực hoá mục tiêu hoàn thiện hạ tầng năng lượng đồng bộ và đột phá mạnh mẽ” với nhan đề “Cơ hội phát triển & tự chủ công nghiệp - năng lượng”.

 (còn nữa)

Nguyên Long

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận