Năm 2017, Ủy ban châu Âu (EC) áp dụng cảnh báo “thẻ vàng” đối với thủy sản khai thác của Việt Nam do những tồn tại trong quản lý và hoạt động khai thác hải sản. Cảnh báo này không chỉ ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản mà còn đặt ra yêu cầu cấp bách phải thay đổi phương thức quản lý, tổ chức lại sản xuất và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong khai thác thủy sản.
Trên khắp các vùng biển của Tổ quốc, từ cảng cá ven bờ đến các ngư trường xa, nghề cá đang từng bước thay đổi để hướng tới một ngành khai thác minh bạch, có trách nhiệm và phát triển bền vững; đồng thời mở ra kỳ vọng gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của EC trong thời gian tới. Trong hành trình chuyển mình ấy, công nghệ đang trở thành công cụ quan trọng để quản lý hoạt động khai thác trên biển.
Giữa biển khơi, mỗi con tàu hôm nay không chỉ bám ngư trường mà còn được “định vị” trên các hệ thống giám sát hiện đại, giúp việc quản lý nghề cá minh bạch và hiệu quả hơn. Loạt bài “Gỡ ‘thẻ vàng’ IUU: Hành trình chuyển mình của nghề cá Việt Nam” sẽ phản ánh những chuyển động đó. Bài 1 có nhan đề: “Khi con tàu được ‘định vị’ giữa biển khơi”.
Bài 1: Khi con tàu được “định vị” giữa biển khơi
Trên màn hình của trung tâm giám sát tàu cá, hàng nghìn chấm sáng đang di chuyển trên bản đồ biển. Mỗi chấm sáng là một con tàu đang bám ngư trường, tín hiệu được truyền về từ thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên tàu. Chỉ cần một con tàu mất tín hiệu hoặc có dấu hiệu đi vào vùng biển nước khác, hệ thống sẽ lập tức phát cảnh báo.Những tín hiệu số ấy đang dần thay đổi cách quản lý nghề cá từ phương thức thủ công sang quản lý bằng dữ liệu số, minh bạch và chủ động hơn. Đây cũng là một bước thay đổi quan trọng trong nỗ lực ngăn chặn khai thác bất hợp pháp và gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.
Trước đây, khi tàu ra khơi dài ngày, việc kiểm soát chủ yếu dựa vào báo cáo của chủ tàu hoặc địa phương. Khi mất liên lạc, lực lượng chức năng rất khó xác định chính xác vị trí hoạt động của tàu. Điều đó khiến công tác quản lý, đặc biệt là việc ngăn chặn tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài gặp không ít khó khăn.
Tuy nhiên, theo ông Đỗ Trung Hậu, nhân viên Trạm Kiểm ngư Sông Đốc, Cà Mau, cùng với việc triển khai Luật Thủy sản năm 2017 và quyết tâm thực thi chống khai thác IUU, phương thức quản lý nghề cá đang từng bước thay đổi. Hành trình của tàu cá, từ lúc rời bến đến khi cập cảng, giờ đây đều có thể được theo dõi trên hệ thống giám sát.
"Thời gian vừa rồi mình vận dụng, áp dụng những phần mềm hỗ trợ trong quản lý nghề cá thì theo tôi nhận thấy cái hiệu quả nó rất là cao. Thí dụ như mình kiểm soát được tàu từ trong bờ ra biển và từ biển vào bờ. Và mình kiểm soát được những cái hồ sơ thủ tục của chiếc tàu, thí dụ như là mình kiểm tra được Giấy phép khai thác trực tuyến, đăng kiểm, an toàn thực phẩm nói chung là các thủ tục của một chiếc ghe đủ điều kiện xuất bến đi khai thác". Ông Đỗ Trung Hậu cho biết.
Buổi sáng ở cảng cá Sông Đốc, tỉnh Cà Mau. Những con tàu vừa trở về sau chuyến biển dài ngày. Trên boong tàu, các thuyền viên nhanh tay bốc dỡ từng sọt hải sản. Chuyến biển vừa qua, tàu của ông Đoàn Quốc Lượm, ở xã Sông Đốc, mang về hơn 3 tấn hải sản. Niềm vui của ông Lượm không chỉ từ sản lượng đánh bắt, mà còn bởi sự yên tâm trong suốt hành trình trên biển. Nhờ thiết bị giám sát hành trình, ông Lượm có thể theo dõi vị trí con tàu của mình bất cứ lúc nào. "Lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá tôi thấy cái lợi trước nhất là cho chủ ghe. Mình biết chiếc ghe của mình đang đi đâu, tới vùng nào đánh bắt, không có xâm phạm ra vùng biển nước ngoài. Mình cũng theo dõi được mỗi chuyến biển đánh bắt được bao nhiêu, quản lý tàu tốt hơn.” - ông Lượm nhấn mạnh.
Không chỉ giúp chủ tàu và ngư dân quản lý chuyến biển, những tín hiệu từ hệ thống giám sát hành trình còn hỗ trợ lực lượng chức năng kiểm soát tàu cá hiệu quả hơn.
Trên màn hình trực của tàu Cảnh sát biển 8005 tại vùng biển giáp ranh Việt Nam – Malaysia – Thái Lan – Indonesia - Campuchia, mỗi chấm sáng là một con tàu đang hoạt động trên ngư trường. Đại úy Nguyễn Văn Công, Thuyền trưởng tàu CSB 8005, Hải đoàn 41, Vùng Cảnh sát biển 4 cho biết: "Đối với hệ thống giám sát nghề cá có thể giúp cho tàu có thể giám sát tất cả các tàu cá đang hoạt động ở khu vực biển giáp ranh. Đối với các tàu cá có dấu hiệu vi phạm thì tàu sẽ tuyên truyền và kiểm tra trực tiếp, cũng như tuyên truyền qua kênh nghề cá để đảm bảo tàu cá không vi phạm".
Bên cạnh quản lý trên biển, việc quản lý tàu cá tại cảng cũng đang thay đổi nhờ các ứng dụng số. Ông Phạm Tuấn Linh, chủ tàu cá KG-95814, đang hoàn tất thủ tục chuyến biển từ chiếc điện thoại thông minh tại Văn phòng thanh kiểm tra nghề cá tại cảng cá Tắc Cậu, tỉnh An Giang.
Chỉ với vài thao tác trên điện thoại, toàn bộ thông tin chuyến biển đã được cập nhật lên hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc hải sản điện tử. Ông Linh cho biết: "Khi tàu sắp cập cảng tôi có khai trên phần mềm eCDT cái phần như là sản lượng cá thôi thu mua, số tàu tôi cập cảng, thời gian cập cảng. Khai trên này tôi thấy nhanh chóng, tiện lợi khỏi phải chạy tới chạy lui tốn ít thời gian. Khi mà khai trên này tỉ lệ sai sót cũng ít".
Ứng dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử ( gọi tắt là eCDT), hệ thống cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia VnFishbase, hay hệ thống giám sát hành trình VMS đang trở thành những “trợ lý số” cho mỗi chuyến biển. Nhờ đó, hành trình của tàu cá từ lúc rời bến, hoạt động trên ngư trường cho tới khi cập cảng đều được ghi nhận và quản lý minh bạch. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến nay cả nước đã có gần 28 nghìn tàu cá lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, hơn 47.700 tàu có chiều dài từ 6m trở lên tham gia hệ thống eCDT. Đồng thời, 100% tàu cá đang hoạt động đã được cập nhật dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu tàu cá quốc gia.
Theo Ông Nguyễn Quang Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư: Các nền tảng số đang tạo cơ sở quan trọng để nghề cá Việt Nam chuyển sang mô hình quản lý hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm hơn:" Nghề cá Việt Nam rất đặc thù, là nghề cá khai thác truyền thống, quy mô nhỏ và rất manh mún. Số lượng tàu cá rất lớn. Tuy nhiên chúng ta cũng đã đạt được những kết quả rất tốt. Hiện nay về cơ bản, chúng ta đã kiểm soát được số lượng tàu cá và số hóa trên cơ sở dữ liệu quốc gia theo hướng chuyển đổi số và quản lý theo 4.0. Hiện nay chúng ta có thể kiểm soát được tàu cá khai thác ở đâu, đi đâu, về đâu và trên cơ sở đó thì chúng ta sẽ có cách quản lý trong việc hoạt động khai thác trên biển."
Việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý tàu cá đang tạo ra bước chuyển quan trọng trong kiểm soát hoạt động khai thác trên biển. Đại tá Cao Anh Sơn, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel cho biết:"Hiện nay thì tất cả các quá trình xuất nhập bến thì cũng đã truy vấn lên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, thì mỗi chuyến biển cũng đã có đầy đủ danh tính thuyền trưởng và thuyền viên trên tàu thì đây cũng đã là một cái luồng thông tin chúng ta cập nhật lên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Để dữ liệu này đảm bảo đúng đủ, sạch, sống thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Cục Thủy sản và Kiểm ngư phải xây dựng quy trình để làm giàu dữ liệu".
Từ những tín hiệu kết nối giữa biển khơi và đất liền, mỗi con tàu hôm nay không chỉ được “định vị” trên bản đồ điện tử mà còn dần đi vào khuôn khổ của một nghề cá minh bạch và có trách nhiệm. Công nghệ giám sát hành trình, dữ liệu số cùng sự vào cuộc của các lực lượng chức năng đang tạo nên một “mạng lưới quản lý” ngày càng chặt chẽ trên biển. Để chấm dứt hoàn toàn tình trạng khai thác IUU, chỉ siết chặt quản lý thôi vẫn chưa đủ. Khi nguồn lợi thủy sản suy giảm và yêu cầu hội nhập ngày càng khắt khe, nhiều ngư dân cũng đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi cách làm nghề, thậm chí chuyển hướng sinh kế.
Bên cạnh những con tàu vẫn ngày đêm bám ngư trường, một hành trình khác cũng đang bắt đầu – hành trình tìm kiếm những sinh kế bền vững hơn cho người dân vùng biển. Đây cũng là nội dung của bài 2 của loạt bài “Gỡ ‘thẻ vàng’ IUU: Hành trình chuyển mình của nghề cá Việt Nam” với nhan đề: “Kiến tạo sinh kế bền vững từ biển”.
Thu Lan - Hương Giang - Tuấn Nam - Hà Phương
Bình luận