Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cũng đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 doanh thu hợp nhất đạt khoảng 37 tỷ USD; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản đạt trên 4%; bảo đảm cung ứng trên 25% tổng nhu cầu năng lượng quốc gia.
Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Vũ Đào Minh cho biết, mục tiêu phát triển của Petrovietnam trong giai đoạn tới không chỉ là tăng trưởng về quy mô doanh thu, lợi nhuận hay tài sản. Mục tiêu lớn hơn là chuyển đổi từ một tập đoàn dầu khí truyền thống thành Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, đóng vai trò trụ cột trong bảo đảm an ninh năng lượng, dẫn dắt chuyển dịch năng lượng, phát triển công nghiệp nền tảng và đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.
Chiến lược phát triển Petrovietnam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định mục tiêu rất rõ ràng. Theo đó, Petrovietnam phấn đấu gia nhập nhóm 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới vào năm 2030 và đứng trong Top 10 Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng hàng đầu khu vực; doanh thu hợp nhất đạt khoảng 37 tỷ USD; tỷ suất lợi nhuận trên tài sản đạt trên 4%; bảo đảm cung ứng trên 25% tổng nhu cầu năng lượng quốc gia. Tầm nhìn đến năm 2050 của Petrovietnam là tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới, dẫn dắt quá trình chuyển dịch năng lượng quốc gia, đạt doanh thu hợp nhất 80 - 100 tỷ USD, ROA trên 5%, cung cấp trên 30% tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của đất nước, trong đó trên 50% là năng lượng phát thải thấp.
“Đây là một mục tiêu lớn, có tính khát vọng, nhưng không phải là mục tiêu xa rời thực tiễn. Petrovietnam có nền tảng lịch sử, năng lực công nghiệp, đội ngũ kỹ thuật, chuỗi giá trị, tài sản, thị trường và vai trò quốc gia đủ lớn để vươn tới mục tiêu đó. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định đúng ‘điều kiện cần’ và ‘điều kiện đủ’ để biến khát vọng thành kết quả cụ thể” - Phó Tổng Giám đốc Petrovietnam Vũ Đào Minh nhấn mạnh.
Theo đó, Petrovietnam xác định có ít nhất 6 “điều kiện cần” và 6 “điều kiện đủ” để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả cốt lõi và tạo ra các động lực tăng trưởng mới”.
Điều kiện cần thứ nhất, đó là duy trì và nâng cao hiệu quả các lĩnh vực cốt lõi. Dầu khí tiếp tục là nền tảng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, vì vậy Petrovietnam cần nâng cao hiệu quả thăm dò, khai thác, gia tăng trữ lượng, tận thu tài nguyên, phát triển các mỏ nhỏ và tái sử dụng hạ tầng hiện hữu cho các lĩnh vực năng lượng mới. Đồng thời, tối ưu toàn bộ chuỗi giá trị từ khí - điện - đạm, lọc hóa dầu đến dịch vụ kỹ thuật và công nghiệp hỗ trợ.
Thứ hai, đẩy nhanh triển khai các dự án trọng điểm như chuỗi khí - điện Lô B - Ô Môn, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các dự án LNG và khí - điện. Trọng tâm là nâng cao kỷ luật thực thi, kiểm soát tiến độ, chi phí, rủi ro và phân định rõ trách nhiệm, bảo đảm các dự án hoàn thành đúng kế hoạch.
Thứ ba, mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế. Petrovietnam cần tăng tỷ trọng doanh thu từ thị trường nước ngoài thông qua đầu tư, mua bán - sáp nhập, hợp tác với các tập đoàn năng lượng quốc tế, phát triển thương mại dầu khí, LNG, hóa dầu, hydrogen, amoniac và các sản phẩm năng lượng mới, đồng thời nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế.
Thứ tư, coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng. Tập đoàn cần xây dựng nền tảng dữ liệu thống nhất, phát triển mô hình vận hành số, ứng dụng AI và các công nghệ tiên tiến trong quản trị, khai thác và sản xuất; đồng thời tập trung nghiên cứu các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydrogen, CCUS, lưu trữ năng lượng và vật liệu mới. Hoạt động nghiên cứu phải gắn chặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng thương mại hóa.
Thứ năm, phát triển các trung tâm công nghiệp - năng lượng sinh thái theo mô hình tích hợp giữa năng lượng sạch, công nghiệp xanh, logistics, nghiên cứu, dữ liệu và công nghệ. Mô hình này giúp tối ưu hạ tầng, giảm chi phí đầu tư, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, hình thành các cực tăng trưởng mới và nâng cao vị thế của Petrovietnam trong chuỗi giá trị năng lượng.
Thứ sáu, đổi mới quản trị và nâng cao năng lực thực thi theo thông lệ OECD. Petrovietnam cần triển khai các sáng kiến chiến lược với hệ thống KPI, cơ chế giám sát, cảnh báo rủi ro và trách nhiệm giải trình rõ ràng; đồng thời hoàn thiện quản trị doanh nghiệp, tăng cường minh bạch, quản trị rủi ro, kiểm toán nội bộ, ESG và phát triển bền vững để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
6 điều kiện đủ được Petrovietnam, xác định là Nhà nước cần tiếp tục kiến tạo thể chế đột phá cho ngành năng lượng - dầu khí: thể chế đủ rõ để doanh nghiệp dám làm; đủ linh hoạt để dự án lớn được triển khai nhanh; đủ minh bạch để kiểm soát rủi ro; đủ ổn định để huy động vốn dài hạn; đủ mở để thu hút công nghệ, đối tác, nhân tài và nguồn lực xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về dầu khí, năng lượng và chuyển dịch xanh; xây dựng cơ chế phù hợp cho các dự án LNG, khí - điện, hydrogen, điện gió ngoài khơi, CCUS, thị trường carbon và các lĩnh vực năng lượng mới.
Thứ hai, xây dựng cơ chế đặc thù đối với các dự án và cụm dự án năng lượng chiến lược quốc gia theo hướng rút ngắn thủ tục, thực hiện cơ chế một cửa, cho phép triển khai song song các quy trình đầu tư, xây dựng và môi trường nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro.
Thứ ba, xác lập vai trò của Petrovietnam là nhà phát triển tổng thể các trung tâm công nghiệp - năng lượng quy mô lớn; đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ trì đầu tư các hạ tầng chiến lược và thu hút khu vực tư nhân, nhà đầu tư quốc tế tham gia các dự án vệ tinh theo nhiều hình thức hợp tác.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tài chính và phân cấp mạnh hơn cho doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng, tạo điều kiện chủ động huy động vốn, sử dụng tài chính xanh, hợp tác quốc tế, mua bán - sáp nhập và quyết định đầu tư trên cơ sở công khai, minh bạch và hiệu quả.
Thứ năm, xây dựng cơ chế khuyến khích khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), chấp nhận mức độ rủi ro hợp lý trong nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ để thúc đẩy các lĩnh vực mới như AI, hydrogen, lưu trữ năng lượng, CCUS và chuyển đổi số.
Thứ sáu, phát triển thị trường năng lượng minh bạch, cạnh tranh và có tín hiệu dài hạn thông qua hoàn thiện thị trường điện, LNG, carbon, cơ chế tín chỉ xanh, tiêu chuẩn ESG và các chính sách ổn định nhằm thu hút nguồn vốn, công nghệ và đối tác quốc tế./.
Nguyên Long
Bình luận