Bài 2: Nông nghiệp vùng ĐBSCL khẳng định vị thế xuất khẩu
VOV1 - Trong chặng đường 50 năm qua, vùng ĐBSCL đã đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, suy thoái nguồn tài nguyên, tác động từ thị trường.

Nhưng với sự nỗ lực vượt khó, sự cần cù, cần mẫn của người dân, cùng các cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước đã giúp cho vùng ĐBSCL thêm động lực để trở thành trung tâm về sản xuất nông nghiệp. Trong phần hai của loạt bài, nhóm PV CQTT ĐBSCL sẽ phác họa rõ hơn sự thay đổi tư duy của người dân, sự cam kết, đồng lòng của doanh nghiệp và cơ chế chính sách để nông sản của vùng ĐBSCL khẳng định thương hiệu trên trường quốc tế.

Hơn 5 hecta nhãn canh tác theo tiêu chuẩn VietGap xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Australia đã giúp cho gia đình nông dân Nguyễn Hoàng Anh, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi vụ. Chính áp dụng quy trình canh tác nghiêm ngặt đã giúp cho sản phẩm được giá, không còn lo đầu ra: Muốn để đạt thị trường, đóng đi Mỹ thì mình mới làm chứ nhãn cho nó chất lượng, muốn mà được suất thị trường châu Âu là mình làm phải theo tiêu chuẩn của VietGap, làm theo quy trình mới xuất được đi.

Cờ Đỏ có diện tích trồng cây ăn trái lớn của Cần Thơ với khoảng 5.000 hecta, với nhiều loại cây ăn trái đặc sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, EU và Trung Quốc. Nông dân Phạm Tấn Tài ở huyện Cờ Đỏ đang trồng nhãn theo hướng hữu cơ để vào thị trường EU. Nếu sản phẩm chiếm được niềm tin của người tiêu dùng sẽ mở ra hướng đi mới cho người dân, đầu ra của sản phẩm ổn định, khẳng định được thương hiệu nông sản: Giờ mình đã ký hợp đồng với xuất khẩu sang Hoa Kỳ thì đương nhiên giá cả cao hơn, đời sống bà con mình sẽ khả quan hơn.

Trong canh tác lúa theo phương thức truyền thống trước đây người dân người sử dụng lượng giống gieo sạ từ 100 đến 120 kg/hecta, thậm chí có những mùa vụ lên tới 150kg/hecta. Điều này đã tác động đến môi trường, gia tăng dịch bệnh trên mùa vụ. Với đề án 1 triệu ha đã được triển khai, nhân rộng ở vùng ĐBSCL đã giảm 50% lượng giống gieo sạ, giảm 30% lượng phân bón, giảm số lần phun thuốc.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho rằng, trong bối cảnh canh tác lúa theo hướng giảm phát thải cần phải giảm tối đa lượng giống, nếu mỗi ha sạ từ 60 – 70kg thì vẫn đảm bảo năng suất. Tại Viện lúa đã thí điểm trên mô hình khi sử dụng lượng giống gieo sạ 40kg/ha, năng suất vẫn đảm bảo:  Ngoài những yêu cầu về chất lượng phẩm chất thông thường thì cái tiêu chí đẻ nhánh sớm, tiêu chí về phát thải thấp và tiêu chí về sử dụng phân đạm hiệu quả là ba vấn đề đặt ra cho chúng tôi trong công tác nghiên cứu.

Hàng năm diện tích sản xuất lúa của An Giang khoảng 600.000 hecta, với sản lượng khoảng 4 triệu tấn, đứng thứ 2 khu vực ĐBSCL về sản xuất lúa gạo. Ông Tôn Thất Thịnh, Phó Giám đốc Sở NN&MT An Giang cho biết, ngành hàng lúa gạo là ngành hàng chủ lực của địa phương. Hiện nay, An Giang đã triển khai nhiều biện pháp để nâng cao chuỗi giá trị ngành lúa gạo: Thúc đẩy chuyển đổi sang cái phương thức công tác lúa gạo có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và phát thải carbon thấp thông qua việc phát triển chuỗi giá trị bền vững, thúc đẩy tăng cường liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.

Trong xu thế toàn cầu, sản xuất giảm phát thải là điều tất yếu. Triển khai đề án 1 triệu hecta lúa ở ĐBSCL, Việt Nam đang cụ thể hóa cam kết với cộng đồng quốc tế tại COOP 26 về biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường.

Từng theo dõi và chứng kiến quy trình canh tác lúa giảm phát thải tại Việt Nam, chuyên gia cao cấp về kinh tế nông nghiệp của Ngân hàng Thế giới (World Bank) ông Li Guo cho biết: Hiện ngân hàng Thế giới đang cam kết, đồng hành cùng Việt Nam trong triển khai, nhân rộng đề án: Đề án này nó có 3 tiêu chí. Mục tiêu số 1 là giúp cho người nông dân tăng thu nhập từ trồng lúa. Cái thứ 2 là tăng cường tính cạnh tranh của chuỗi giá trị ngành lúa gạo Việt Nam. Và thứ 3 là đóng góp cho việc giải quyết các thách thức của biến đổi khí hậu trong  ở Việt Nam và trên thế giới.

Trong nửa thập kỷ đã qua, nông nghiệp vùng ĐBSCL đã khẳng định vị thế dẫn đầu cả nước về sản lượng và xuất khẩu. Cùng với đó, là vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trước những thách thức của biến đổi khí hậu đã và đang tác động gay gắt. Tuy nhiên, nông nghiệp vùng ĐBSCL cũng đang đối mặt với những mặt trái của sự phát triển nhanh chóng, thâm canh tăng vụ trong thời gian dài đã gây suy thoái tài nguyên đất, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép đã tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái, sức khỏe và sản phẩm nông sản.

 Trong phần cuối của loạt bài “Nâng tầm vị thế nông sản vùng ĐBSCL trong hội nhập quốc tế” nhóm phóng viên Đài TNVN – khu vực ĐBSCL sẽ làm rõ câu chuyện thay đổi tư duy của người dân trong sản xuất nông nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, canh tác theo hướng bền vững, truy xuất nguồn gốc để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Cùng với đó, cần liên kết, hình thành vùng nguyên và hỗ trợ đầu ra cho các sản phẩm là thế mạnh của vùng ĐBSCL./.

 

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận