Việt Nam tự chủ năng lượng như thế nào cho tăng trưởng 2 con số?
VOV1 - Cùng với sửa đổi Luật Điện lực, việc rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII gắn với tăng trưởng cao giai đoạn 2026-2030 và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số đang được Bộ Công Thương gấp rút triển khai.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Điều kiện để nền kinh tế tăng tốc là phải bảo đảm an ninh năng lượng: đủ nguồn cung, ổn định và có khả năng chống chịu trước những tác động từ bên ngoài.

Việt Nam bước vào năm 2026 với nhiều cơ hội, nhưng cũng đứng trước không ít thách thức đan xen. Đối với lĩnh vực năng lượng, những biến động địa chính trị, xung đột tại các khu vực sản xuất và trung chuyển năng lượng tiếp tục tạo sức ép lên nguồn cung nhiên liệu và thị trường năng lượng toàn cầu. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, nguy cơ khô hạn và những diễn biến khó lường của nguồn nước cũng đặt ra không ít thách thức đối với việc bảo đảm cung ứng điện.

Là một quốc gia nhập khẩu ròng năng lượng từ năm 2015, Việt Nam đã, đang và sẽ làm gì để tăng mức độ tự chủ về năng lượng, giảm phụ thuộc vào các nguồn cung bên ngoài, để tạo nền tảng năng lượng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng cao? Từ thực tế bảo đảm nguồn cung năng lượng cho tăng trưởng kinh tế và đời sống hơn 8 tháng qua, chúng tôi thực hiện chuyên đề: “Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: Việt Nam tự chủ năng lượng như thế nào cho tăng trưởng 2 con số?” với các nội dung cụ thể sau:

Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng: Tăng mức độ tự chủ, giảm mức độ phụ thuộc;

Tiếp tục cập nhật Quy hoạch Điện 8 điều chỉnh: Để điện đi trước một bước đáp ứng yêu cầu tăng trưởng mới.

Xăng E10: Câu chuyện cụ thể về “tự chủ năng lượng”

Tự chủ năng lượng bắt đầu từ từng mái nhà, từng kWh điện được sử dụng hiệu quả - nguồn điện “không cần đầu tư mới”

Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng: Tăng mức độ tự chủ, giảm mức độ phụ thuộc!

Những biến động địa chính trị trong năm 2026 một lần nữa cho thấy năng lượng có thể trở thành một điểm dễ tổn thương nhất của nền kinh tế toàn cầu. Đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, tăng mức độ tự chủ, giảm mức độ phụ thuộc, Việt Nam đã đi qua gần 9 tháng của năm 2026 với tốc độ tăng trưởng cao, nguồn cung xăng dầu, khi đốt, điện, than... được bảo đảm.

Nhìn lại việc bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước trước những biến động rất mạnh của thị trường xăng dầu thế giới, ông Trần Hữu Linh - Cục trưởng Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) nhớ lại: Ngày 28/02/2026, Mỹ và Israel đã tấn công quân sự vào Iran gây gián đoạn nguồn cung dầu mỏ từ Trung Đông. Giá dầu trên thế giới biến động, liên tục tăng với biên độ cao, thời gian kéo dài, tạo nên cuộc khủng hoảng năng lượng lớn nhất kể từ thập niên 1970 trở lại đây. Ở nhiều nước như Thái Lan, Lào, Campuchia xảy ra tình trạng xếp hàng dài chờ mua xăng dầu. Philippines đã phải ban bố tình trạng khủng hoảng về năng lượng…

Đối với Việt Nam, cuộc xung đột đã tạo ra sức ép lớn trên nhiều phương diện. Việt Nam phụ thuộc đến hơn 70% nguồn cung xăng dầu vào nước ngoài, bao gồm phải nhập khẩu 30% xăng dầu thành phẩm; 02 nhà máy lọc dầu trong nước đáp ứng 70% nhu cầu xăng dầu nhưng phải nhập khẩu đến hơn 70% lượng dầu thô để tinh chế.

Giá xăng dầu tăng cao cũng kéo theo chi phí sản xuất, vận tải và giá hàng hóa tăng, từ đó gây áp lực lên lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trước tình hình đó, Bộ Công Thương đã đánh giá đúng tình hình: Cuộc khủng hoảng lần này khác với cuộc khủng hoảng xăng dầu năm 2022, do cuộc chiến tranh Nga - Ucraina dễ dự báo và có tính chất đơn giản hơn nhiều do chỉ tác động đến 02 nền kinh tế và không làm ảnh hưởng đến nguồn cung dầu thô trên toàn thế giới. Trái lại, cuộc khủng hoảng lần này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung năng lượng và dầu thô trên toàn thế giới.

“Ngày 09/3/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-BCT về việc tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh năng lượng trước diễn biến phức tạp của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông”

Cục trưởng Trần Hữu Linh nhấn mạnh: Bộ Công Thương đã sớm dự báo và đánh giá đúng tình hình, diễn biến thị trường năng lượng thế giới để có các giải pháp, biện pháp kịp thời. Nhờ đó, không chỉ nguồn cung được bảo đảm mà giá xăng dầu trong nước luôn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, góp phần quan trọng vào ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát:

"Bộ Công Thương đã xác định 3 mục tiêu và nguyên tắc rõ ràng: Thứ nhất là phải bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường trong mọi tình huống; Thứ 2 là điều hành giá xăng dầu phù hợp với diễn biến thị trường thế giới, hạn chế biến động bất thường; Thứ ba là phải hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Cùng với đó, Bộ Cũng đưa ra 04 nguyên tắc chính: Thứ nhất là bảo đảm cân đối cung - cầu, an ninh năng lượng quốc gia; Thứ hai là điều hành giá linh hoạt, bám sát thị trường thế giới nhưng có kiểm soát, sử dụng đồng bộ các công cụ: Quỹ bình ổn giá, thuế, ngân sách, tín dụng; ưu tiên giảm tác động đến sản xuất, vận tải và đời sống người dân; Thứ ba là công khai, minh bạch, ổn định tâm lý thị trường; Thứ tư là phải phù hợp với khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp".

Cùng với xăng dầu, điện năng là nguồn nguyên liệu đầu vào tác động trực tiếp đến mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống dân sinh. Vì thế, ngay từ đầu năm 2026 Chính phủ đã tổ chức nhiều cuộc họp chỉ đạo các bộ ngành, địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vận hành hệ thống điện an toàn, ổn định và liên tục, yêu cầu tuyệt đối không để thiếu điện trong bất cứ tình huống nào. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg (ngày 18/01/2026) về nhiệm vụ, giải pháp bảo đảm cung ứng đủ điện phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân trong thời gian cao điểm năm 2026 và giai đoạn 2027-2030.

Để bảo đảm cung ứng đủ điện trong bối cảnh thời tiết khí hậu diễn biến bất thường, dự báo khô hạn diễn ra sớm và kéo dài, khả năng khai thác thủy điện chịu nhiều tác động không thuận, nguồn điện trong nước được sản xuất từ than, dầu và khí - với tỷ trọng nhập khẩu năng lượng sơ cấp khá cao, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP ngày 9/6/2026 về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Trước yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chiều 29/6/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu TKV tiếp tục phát huy vai trò là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong lĩnh vực than và khoáng sản; tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh năm 2026 cũng như kế hoạch giai đoạn 2026 – 2030:

"Thứ nhất là tiếp  tục đảm bảo sản xuất than ổn định, an toàn, hiệu quả, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh đã được giao trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030. Ưu tiên đảm bảo cung ứng đủ than cho sản xuất điện theo đúng cam kết với Chính phủ, không để xảy ra tình trạng thiếu nhiên liệu cho phát điện trong mọi tình huống. Thứ 2, chủ động rà soát, toàn bộ các dự án đầu tư khai thác than, khoáng sản; đẩy nhanh tiến độ các dự án khi đã đủ điều kiện; nghiên cứu uứng dụng KHCN, chuyển đổi số, tự động hoá, nâng cao năng suất lao động, giảm giá thành sản xuất, nâng cao hệ số thu hồi tài nguyên".

Cùng với bảo đảm cho các nguồn điện truyền thống, phát huy tối đa nguồn năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) cũng được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo. Triển khai nhiệm vụ này, ngành điện đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý, vận hành hệ thống truyền tải điện Quốc gia cũng như hạ tầng lưới điện các địa phương nhằm huy động tối đa công suất nguồn điện này.

Ông Huỳnh Quang Thịnh, Phó Giám đốc Công ty Truyền tải điện 3 (PTC3) nhớ lại, thực tế nhu cầu điện các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã tăng rất cao ở thời điểm cuối tháng 5, đầu tháng 6 và tiếp tục tăng cao trong các tháng cao điểm mùa khô, kéo dài đến hết tháng 8 đầu tháng 9/2026. Xác định bất kỳ sự cố nào xảy ra trên lưới điện 500kV đều có thể gây ảnh hưởng lan rộng, tác động trực tiếp đến an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân, vì thế, đơn vị đã đề ra nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm hệ thống vận hành an toàn, liên tục, ổn định, hiệu quả, đặc biệt là khai thác tối đa nguồn NLTT lên lưới điện Quốc gia:

"Thứ nhất là chúng tôi đã cùng với các chủ đầu tư của các nhà máy năng lượng tái tạo cũng như các cơ quan chính quyền địa phương từ Sở Công thương, Phòng an ninh kinh tế ngồi lại họp và tổ chức các hội thảo chuyên ngành để đề xuất ra kế hoạch, phương thức vận hành; rà soát và phân định trách nhiệm các bên. Qua các buổi phối hợp trong công tác quản lý vận hành thì chúng tôi cũng đã thống nhất chung các giải pháp, từ khâu cắt điện, bảo trì, bảo dưỡng và kế hoạch triển khai thực hiện, qua đó đã phối hợp tốt trong thời gian qua".

Tiếp tục cập nhật Quy hoạch Điện 8 điều chỉnh: Để điện đi trước một bước đáp ứng yêu cầu tăng trưởng mới.

Bảo đảm năng lượng cho tăng trưởng “2 con số” trong năm 2026 và cho cả giai đoạn 2026 - 2030 đã đặt ra các yêu cầu cao hơn trong hoạch định chính sách. Công tác chuẩn bị các phương án bảo đảm nguồn cung năng lượng đang được Chính phủ yêu cầu Bộ Công Thương triển khai một cách toàn diện.

Việc sửa đổi Luật Dầu khí và đã được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, chính thức có hiệu lực từ 01/3/2027 không chỉ đưa ra các cơ chế để tháo gỡ điểm nghẽn kinh tế, giúp khai thác hiệu quả các mỏ nhỏ, mỏ cận biên và nâng cao hệ số thu hồi tại các mỏ hiện hữu mà còn mở rộng không gian phát triển năng lượng ngoài khơi, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS)…

Cùng với sửa đổi Luật Điện lực, việc rà soát, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII gắn với tăng trưởng cao giai đoạn 2026-2030 và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số cũng đang được Bộ Công Thương gấp rút triển khai.

Điểm đáng chú ý là lần rà soát, cập nhật này không chỉ nhằm bổ sung thêm nguồn điện, mà hướng tới tái cấu trúc bài toán cung - cầu điện thích ứng với một nền kinh tế định hướng tăng trưởng cao và bền vững. Cơ quan quản lý yêu cầu các địa phương cập nhật lại nhu cầu phụ tải, nguồn và lưới điện, đồng thời tính toán những nhu cầu mới từ trung tâm dữ liệu, xe điện và trạm sạc, metro, đường sắt tốc độ cao, cũng như rà soát các dự án đã có trong quy hoạch nhưng chưa thu hút được nhà đầu tư. Cùng với đó là rà lại cơ cấu nguồn giữa các vùng, khả năng truyền tải và tiến độ các dự án trọng điểm, để công suất nguồn không chỉ tồn tại trên quy hoạch mà có thể thực sự đáp ứng nhu cầu điện tại những khu vực tăng trưởng.

“Cụ thể, ngày 19/6/2026, Bộ Công Thương ban hành Văn bản (4583/BCT-ĐL) yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố cung cấp số liệu để phục vụ rà soát, cập nhật, bổ sung Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Ngày 24/7/2026, Bộ Công Thương tổ chức họp toàn quốc với các Sở CôngThương để hướng dẫn triển khai điều chỉnh, cập nhật quy hoạch theo Nghị định 272/2026/NĐ-CP”

Đáng chú ý, yêu cầu chuyển đổi xanh đã được đặt ngay trong quá trình rà soát, điều chỉnh Quy hoạch Điện, từ phát triển năng lượng tái tạo, lưu trữ điện, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu đến tiết kiệm điện, quản lý và điều chỉnh phụ tải. Trong khi đó, chuyển đổi số đang mở ra một phương thức mới trong quy hoạch và vận hành hệ thống, dựa nhiều hơn vào dữ liệu, dự báo phụ tải, công nghệ lưới điện thông minh, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số quản lý đầu tư.

Có thể thấy, yêu cầu đặt ra với việc rà soát Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đã quán triệt tinh thần Nghị quyết 70/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia, không chỉ là có đủ điện cho tăng trưởng, mà phải hình thành một hệ thống điện xanh hơn, linh hoạt hơn, thông minh hơn và có khả năng đáp ứng những nhu cầu năng lượng mới của nền kinh tế.

Xăng E10: Câu chuyện cụ thể về “tự chủ năng lượng”

Như chúng tôi đã thông tin, cuộc xung đột Trung Đông đã tạo ra sức ép lớn trên nhiều phương diện, trong đó, Việt Nam nhập khẩu đến hơn 70% nguồn cung xăng dầu từ nước ngoài, bao gồm phải nhập khẩu 30% xăng dầu thành phẩm; Các nhà máy lọc dầu trong nước đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xăng dầu trong nước nhưng cũng phải nhập khẩu đến hơn 70% lượng dầu thô để tinh chế. Vì thế, giảm phải phụ thuộc nhập khẩu nhiên liệu cho sản xuất và tiêu dùng xăng dầu là vấn đề đặt ra. Và, triển khai lộ trình chuyển đổi nhiên liệu sinh học tại Việt Nam được cơ quan quản lý đẩy nhanh, áp dụng xăng sinh học E10 trên toàn quốc từ ngày 01/06/2026 theo Thông tư 50/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương.

Xăng E10 có lẽ là một câu chuyện thực tế nhất về “tự chủ năng lượng” của Việt Nam. Với 10% ethanol sinh học trong mỗi lít xăng, E10 góp phần giảm nhu cầu xăng truyền thống, đồng thời mở ra hướng phát triển các nguồn nhiên liệu mới trong nước.

Trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, tự chủ năng lượng không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, mà còn tạo nền tảng cho phát triển ổn định, bền vững. Việc triển khai E10 trên toàn quốc từ ngày 1/6/2026 cho thấy, chuyển đổi xanh trong lĩnh vực nhiên liệu đang từng bước đi vào thực tế. Đáng chú ý, E10 không chỉ dừng ở câu chuyện phối trộn nhiên liệu, mà còn mở ra một chuỗi giá trị mới. TS. Đào Duy Anh, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, Bộ Công Thương, phân tích:

"Ý nghĩa lớn nhất của E10 không chỉ nằm ở tỷ lệ 10% ethanol trong mỗi lít xăng, mà điều quan trọng hơn là E10 đã mở ra cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp sản xuất nhiên liệu mới - một chuỗi giá trị từ nguyên liệu, sản xuất, cung ứng đến sử dụng nhiên liệu xanh hơn, sạch hơn, có giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế. Những kết quả bước đầu trong việc triển khai phân phối xăng E10 trên toàn quốc từ 01/6 đến nay cho thấy thị trường cơ bản ổn định, nguồn cung được bảo đảm, người tiêu dùng đón nhận ngày càng tích cực hơn".

Theo tính toán, với lượng tiêu thụ xăng cả nước khoảng 1 triệu m3/tháng, tương đương 12 triệu m2/năm. Việc áp dụng xăng E10 sẽ giúp giảm khoảng 1,2 triệu m3 xăng truyền thống trên quy mô toàn quốc mỗi năm.

Chuyên gia năng lượng Nguyễn Anh Tuấn - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội năng lượng Việt Nam cũng đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chủ động 10% nguồn nhiên liệu thay thế so với xăng truyền thống: "E10 tức là pha 10% ethanol hữu cơ với xăng khoáng, có nghĩa là chúng ta đã giảm bớt được 10% năng lượng hoá thạch. Cũng có nghĩa rằng chúng ta đã giảm bớt được phát thải khí nhà kính, đóng góp chung vào “ngôi nhà trái đất”, thực hiện việc xanh hóa nền kinh tế"

Đồng quan điểm này, Giáo sư.TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: "Lợi ích thì rõ rồi, chúng ta nhìn thấy việc tự chủ trong vấn đề nguyên liệu, nếu vấn đề nguyên liệu mà phụ thuộc quá lớn thì rất rủi ro trong bối cảnh hiện nay. Hơn nữa, sẽ thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Và tôi còn nhìn thấy những dự án - các nhà máy ethanol trước đây bị đóng cửa thì chắc đây cũng là cơ hội để phục hồi, tạo ra sự phát triển, thì tôi nghĩ như vậy lợi ích rất là lớn, bên cạnh việc chúng ta chuyển đổi xanh vì môi trường".

Từ kinh nghiệm áp dụng tiêu dùng nhiên liệu sinh học vì mục đích môi trường gắn với chủ động nguồn cung của nhiều nước, ông Bùi Ngoc Bảo - Chủ tịch Hiệp hội xăng dầu Việt Nam cho rằng, lộ trình nhiên liệu sinh học củaViệt Nam không chỉ đối với xăng E5, E10 mà đã thiết kế tới việc phối trộn dầu Diesel sinh học (B5, B10). Nếu hiện thực hoá mục tiêu này, việc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch sẽ rất đáng kể và hết sức có ý nghĩa đối với những nước có nền nông nghiệp đang phát triển như Việt Nam:

"Rõ ràng về cơ cấu nếu 1 năm chúng ta sử dụng chừng 26 - 26,5 triệu m3/tấn xăng dầu, nếu mà một cơ cấu đối với Diezel và xăng mà chúng ta chiếm 10% ethanol thì rõ ràng là 1 năm chúng ta đã giảm phụ thuộc vào trong cả xăng và Diezel là tới 2 triệu m3/tấn. Thì đấy là một con số hết sức có ý nghĩa… Thậm chí như Indonesia người ta đã sử dụng tới B20 và B40 thì rõ ràng là chúng ta nhìn vào một cơ cấu về giảm nhiên liệu hóa thạch là hết sức có ý nghĩa. Đặc biệt đối với xăng dầu chúng ta là một nước nhập khẩu ròng, chúng ta mới chỉ đáp ứng được 30% trên tổng nhu cầu xăng dầu mà chúng ta sử dụng, 70% chúng ta đang phải nhập khẩu".

Và một tin vui cho thị trường nhiên liệu sinh học trong nước, đó là Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (BSR) - đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) vừa phối trộn thành công sản phẩm dầu Diesel sinh học B5 và dầu Diesel sinh học B10, đồng thời xuất bán lô dầu Diesel sinh học B5 đầu tiên cho một số đối tác quân đội/vận tải.

Tự chủ năng lượng bắt đầu từ từng mái nhà, từng kWh điện được sử dụng hiệu quả - nguồn điện “không cần đầu tư mới”

Một câu chuyện nữa trong tự chủ năng lượng thời gian qua rất đáng ghi nhận chúng tôi muốn kể cùng quý vị, đó là việc khuyến khích lắp đặt, “xây dựng” những “nhà máy điện” trên mái nhà dân, các cơ quan công sở, doanh nghiệp… gắn với đẩy mạnh việc sử dụng hiệu quả từng kWh điện - nguồn năng lượng “đầu tiên”, nguồn điện “không cần đầu tư mới”:

Triển khai Chỉ thị số 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19 tháng 3 năm 2026 về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện và Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2026 về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà, Bộ Công Thương đã đẩy mạnh tham mư, xây dựng cơ chế chính sách tháo gỡ các vướng mắc để thúc đẩy phát triển nguồn điện này.

Theo đó, Nghị định 243/2026/NĐ-CP đã được Chính phủ ban hành ngày 26/06/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/2025/NĐ-CP về cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) và Nghị định 58/2025/NĐ-CP về phát triển điện năng lượng tái tạo. Đáng lưu ý, Nghị định cho phép tăng tỷ lệ sản lượng điện dư phát lên lưới từ các nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và tháo gỡ các điểm nghẽn thủ tục để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo.

Từ thực tế tăng trưởng phụ tải điện và cách thức huy động, vận hành hệ thống điện Quốc gia, từ những tác động của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông lên thị trường năng lượng thế giới ở cả góc độ nguồn cung và giá, trong khi Việt Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi để phát triển điện mặt trời nói chung, điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) nói riêng, ông Nguyễn Quốc Trung - Phó TGĐ Công ty vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho rằng:

"ĐMTMN là nguồn năng lượng xanh và đóng góp rất tốt cho môi trường. ĐMTMN có thể xây dựng rất nhanh. Khi chúng ta muốn xây dựng một nhà máy nhiệt điện tuabin khí có thể tốn đến 3 năm hoặc hơn 3 năm, nhưng với xây dựng ĐMTMN, nếu các hộ dân lắp đặt thì chỉ cỡ khoảng 1 tuần là có thể đưa vào vận hành được rồi. Bên cạnh đó, ĐMTMN thì nguồn cung không phụ thuộc vào thị trường thế giới, chúng ta rất tự chủ được việc này, còn các nguồn cung khác như là than, dầu, khí… chịu ảnh hưởng rất là mạnh mẽ bởi thị trưởng điện thế giới. Chúng ta đang hội nhập rất sâu, nên mỗi biến động gì đó thì đều ảnh hưởng đến giá sản xuất điện, nhưng ĐMTMN thì không bị ảnh hưởng như vậy".

Chuyên gia năng lượng Hà Đăng Sơn - Chủ tịch Trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng xanh đặc biệt nhấn mạnh đến “bộ đôi” tiết kiệm điện và phát triển ĐMTMN như một giải pháp quan trọng góp phần bảo đảm vận hành an toàn hệ thống điện cũng như bảo đảm điện cho cao điểm mùa khô và đáp ứng nhu cầu điện cho tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030:

"Rõ ràng, tiết kiệm điện và phát triển các nguồn điện tại chỗ như điện mặt trời mái nhà, đặc biệt là kết hợp với pin lưu trữ BESS, sẽ là những giải pháp có ý nghĩa trong giai đoạn 2026–2027. Điện mặt trời mái nhà có ưu thế về thời gian triển khai, chi phí đầu tư hợp lý và khả năng phát triển phân tán, từ doanh nghiệp đến hộ gia đình. Qua đó, vừa tăng khả năng chủ động nguồn điện tại chỗ, vừa góp phần chuyển dịch năng lượng và bảo đảm an toàn hệ thống điện".

Có thể thấy, từ chủ động đa dạng hóa nguồn cung, phát triển các nguồn năng lượng trong nước, Việt Nam đang từng bước giảm phụ thuộc từ bên ngoài dựa vào công nghệ, tài nguyên và trí tuệ con người để khai thác hiệu quả, sử dụng tiết kiệm và làm chủ những nguồn năng lượng mới - tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng "hai con số" trong giai đoạn 2026-2030./.

Nguyên Long

 

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận