Quan hệ đối tác vì năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững
VOV1 - Trong khuôn khổ Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026, sáng nay (7/10), Phiên toàn thể 3 đã diễn ra với chủ đề “Quan hệ đối tác vì năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững” và bế mạc.

Tham dự Phiên toàn thể 3 có các diễn giả: TS. Vũ Chiến Thắng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; PGS.TS. Nguyễn Bá Chiến, Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công; TS. Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công; GS.TS. Agus Pramusinto, Đại học Gadjah Mada, nguyên Chủ tịch Ủy ban Công vụ Indonesia; GS.TS. Masao Kikuchi, Đại học Meiji, Nhật Bản.

Bước vào Phiên toàn thể 3, thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng tham luận với chủ để “Cải cách thể chế thúc đẩy chuyển đổi hệ thống, hướng tới Chính phủ sẵn sàng trước tương lai” khẳng định: Thể chế là nền tảng của quản trị quốc gia, quyết định cách thức tổ chức quyền lực, huy động nguồn lực và thực hiện mục tiêu phát triển. Trong bối cảnh công nghệ, kinh tế và xã hội biến đổi nhanh, cải cách thể chế cần được đặt trong tổng thể chuyển đổi hệ thống, gắn hoàn thiện pháp luật với đổi mới tổ chức, phân cấp, phân quyền và xây dựng Chính phủ số. Mục tiêu là tạo lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, khả thi, bảo đảm quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và điều kiện thực hiện.

TS. Vũ Chiến Thắng đánh giá những kết quả nổi bật trong cải cách thể chế tại Việt Nam thời gian qua, gồm: Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện pháp luật; tăng cường rà soát văn bản; hoàn thiện phân cấp, phân quyền và cơ chế tiếp nhận phản ánh, kiến nghị. Tuy nhiên, việc cải cách thể chế vẫn còn những hạn chế, như: Quy định chưa đồng bộ; chất lượng nghiên cứu và đánh giá tác động chính sách chưa đồng đều; năng lực thực thi ở một số địa phương còn hạn chế; việc liên thông dữ liệu, tái cấu trúc quy trình chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu chuyển đổi số.

Trên cơ sở đó, thứ trưởng Vũ Chiến Thắng đề xuất 6 nhóm giải pháp nhằm tiếp tục cải cách thể chế thúc đẩy chuyển đổi hệ thống, hướng tới Chính phủ sẵn sàng trước tương lai:

(Quán triệt định hướng Đại hội XIV của Đảng về cải cách thể chế, từ những khó nhăn được nhận diện, chúng tôi tập trung thực hiện một số giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, gắn tháo gỡ điểm nghẽn với chuyển đổi phương thức quản trị. Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu, hoạch định chính sách và đánh giá tác động. Thứ ba, gắn phân cấp, phân quyền với nguồn lực và trách nhiệm giải trình. Thứ tư, phát triển quản trị dựa trên dữ liệu. Thứ năm. tăng cường tổ chức thi hành và đánh giá pháp luật sau ban hành. Thứ sáu, nâng cao năng lực dự báo và khả năng thích ứng của thể chế)- Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng nhấn mạnh.

Trong một thế giới biến động nhanh, các vấn đề công ngày càng mang tính liên ngành, vượt khỏi phạm vi xử lý của một cơ quan, một ngành hay một cấp chính quyền. Từ thực tiễn đó, tham luận của TS. Trương Quốc Việt, Phó Trưởng khoa Khoa Hành chính học, Học viện Hành chính và Quản trị công với chủ đề “Quản trị linh hoạt trong thế giới biến động: năng lực phối hợp liên ngành, đối tác đa chủ thể và sẵn sàng cho tương lai - gợi mở từ nghiên cứu về Chính phủ linh hoạt ở Việt Nam” đặt vấn đề chuyển từ “linh hoạt trong từng tổ chức” sang xây dựng năng lực linh hoạt ở cấp độ toàn hệ thống quản trị.

Kế thừa các hướng tiếp cận về chính phủ linh hoạt, quản trị thích ứng, quản trị hợp tác, quản trị dự báo và năng lực động, TS. Trương Quốc Việt đề xuất 3 cấp độ của năng lực quản trị linh hoạt, gồm: Cấp độ tổ chức, cấp độ toàn Chính phủ và cấp độ hệ sinh thái quản trị. Nếu cấp tổ chức tập trung vào khả năng nhận biết thay đổi, sử dụng dữ liệu và điều chỉnh quy trình, thì cấp toàn Chính phủ đòi hỏi các cơ quan, các cấp cùng chia sẻ mục tiêu, dữ liệu, nguồn lực và trách nhiệm. Ở cấp độ hệ sinh thái, Nhà nước cần kết nối doanh nghiệp, viện trường, tổ chức xã hội, cộng đồng và các đối tác khác để huy động nguồn lực cho các vấn đề công.

TS. Trương Quốc Việt cũng đề xuất bốn hướng chuyển đổi năng lực: (1) Từ năng lực riêng lẻ của cơ quan sang năng lực hệ thống; (2) Từ phối hợp theo ranh giới thẩm quyền sang kết nối liên ngành, liên cấp và đa chủ thể; (3) Từ sở hữu nguồn lực sang huy động và điều phối hệ sinh thái; và (4) Từ phản ứng sang nhận biết sớm, thích ứng và học hỏi liên tục. Những chuyển đổi này phải được đặt trong khuôn khổ pháp quyền, gắn với minh bạch, khả năng kiểm chứng và trách nhiệm giải trình.

TS. Trương Quốc Việt khẳng định năng lực linh hoạt của một tổ chức chỉ là điểm khởi đầu. Để Nhà nước sẵn sàng trước những biến động khó dự báo, cần bảo đảm các “điểm nối” giữa thông tin, thẩm quyền, nguồn lực và phản hồi hoạt động hiệu quả. Nhà nước sẵn sàng cho tương lai không phải ở khả năng dự báo chính xác từng cú sốc mà ở khả năng nhận biết sớm, kết nối đúng năng lực, huy động hành động chung và học hỏi đủ nhanh để tự điều chỉnh trong khuôn khổ pháp quyền.

(Chúng ta nói rất nhiều đến mô hình chuyển từ mô hình nhà nước từ “chèo thuyền sang lái thuyền”, rồi mô hình “nhà nước nhỏ, xã hội lớn”. Nói như vậy không có nghĩa là làm vai trò nhà nước mất đi, mà thực chất là nâng cao vai trò nhà nước ở những giá trị chính nhà nước phải làm. Đó là gì? Đó là nhà nước chuyển mạnh hơn sang việc xác lập mục tiêu công, sang thiết kế luật chơi, sang bảo đảm tính công bằng, sang điều phối lợi ích và chịu trách nhiệm cuối cùng. Bởi lẽ nhà nước sở hữu nguồn lực hiện có, nhưng ngược lại động lực về khoa học công nghệ, sự sáng tạo đổi mới nằm ở doanh nghiệp. Tri thức cơ bản thì nằm ở trong nhà khoa học và viện nghiên cứu. Tri thức dân gian cộng đồng thì nằm ở người dân và cộng đồng. Và nguồn lực thì nằm ở người dân và cộng đồng là chính. Và đối tác quốc tế thì đó là câu chuyện kinh nghiệm. Thì nhà nước phải kết nối các nguồn lực này để giải quyết các điểm nghẽn của điểm đối quản trị)- TS. Trương Quốc Việt phân tích.

Nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển từ mô hình quản trị lấy chính phủ làm trung tâm sang quản trị dựa trên quan hệ đối tác để nâng cao năng lực sẵn sàng trước tương lai là chia sẻ của GS.TS. Agus Pramusinto, ĐH Gadjah Mada, nguyên Chủ tịch Ủy ban Công vụ Indonesia. Với chủ đề “Quan hệ đối tác vì năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững”, GS.TS. Agus Pramusinto cho rằng: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, biến đổi nhân khẩu học, đô thị hóa, tác động của AI, chuyển đổi năng lượng, an ninh lương thực và bất bình đẳng ngày càng phức tạp, chính phủ không thể tự mình giải quyết toàn bộ các vấn đề công. Chính phủ phải sẵn sàng trước tương lai cần có khả năng điều phối nhiều chủ thể, huy động tri thức phân tán, kết hợp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và bảo vệ giá trị công:

(Một chính phủ sẵn sàng trước tương lai không nhất thiết phải là một chính phủ có một bộ máy tổ chức lớn nhất, đồ sộ nhất. Một chính phủ sẵn sàng trước tương lai có thể là một chính phủ có khả năng kết nối tốt nhất các năng lực được tồn tại ở những khu vực khác nhau trong nền kinh tế, trong quốc gia)- GS.TS. Agus Pramusinto chia sẻ.

Tham luận tại phiên toàn thể 3, GS.TS. Masao Kikuchi, Đại học Meiji, Nhật Bản tập trung vào quá trình học hỏi và chuyển giao chính sách giữa các địa phương, quốc gia và khu vực châu Á. Ông nhấn mạnh chính sách không đơn thuần được sao chép từ nơi này sang nơi khác mà được tiếp nhận, điều chỉnh theo bối cảnh và có thể quay trở lại nơi khởi nguồn dưới những hình thức mới. Vì vậy, chuyển giao chính sách cần được nhìn nhận như một quá trình học hỏi tương hỗ và liên tục.

TS. Masao Kikuchi trình bày vai trò của “cộng đồng ủng hộ công cụ chính sách” (instrument constituencies) - mạng lưới các chủ thể cùng quan tâm và thúc đẩy việc áp dụng những công cụ chính sách cụ thể. Các chính quyền địa phương, tổ chức quốc tế, chuyên gia và các mạng lưới chính sách có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình trao đổi, điều chỉnh và lan tỏa chính sách. Trường hợp “Mỗi làng một sản phẩm” (OVOP) của Nhật Bản là minh chứng tiêu biểu cho khái niệm này. Khởi đầu tại tỉnh Oita năm 1979, mô hình khuyến khích cộng đồng phát triển sản phẩm dựa trên nguồn lực và bản sắc địa phương, với các nguyên tắc về tư duy toàn cầu, hành động địa phương, tự lực, sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực. Mô hình sau đó được điều chỉnh và áp dụng tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam thông qua chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Từ OVOP - OCOP, TS. Masao Kikuchi khẳng định học hỏi chính sách ở châu Á ngày càng mang tính hai chiều và có tính vòng lặp. Quan hệ đối tác vì thế không chỉ là phương thức truyền bá một mô hình, mà còn là cơ chế đồng sáng tạo, bản địa hóa và trao đổi kinh nghiệm, vượt qua cách tiếp cận truyền thống về “bên tài trợ” và “bên tiếp nhận”:

(Chúng ta có thể thấy học hỏi chính sách tương hỗ như ví dụ điển hình về OVOP và OCOP. Chương trình OCOP của Việt Nam đã dựa vào hệ thống đánh giá này, phân hạng tập trung và hỗ trợ xây dựng thương hiệu và xúc tiến xuất khẩu với các chiến dịch quảng bá cấp quốc gia. Các chính quyền địa phương của Nhật thì họ lại quay trở lại họ học hỏi lại chính mô hình này của Việt Nam)- TS. Masao Kikuchi khẳng định.

Kết luận Phiên toàn thể 3, các ý kiến thống nhất rằng: Xây dựng năng lực sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững đòi hỏi sự kết hợp giữa cải cách thể chế, quản trị linh hoạt, quan hệ đối tác đa chủ thể và học hỏi chính sách. Nhà nước cần phát huy vai trò kiến tạo, điều phối, bảo vệ giá trị công, đồng thời mở rộng hợp tác để huy động tri thức, dữ liệu và nguồn lực xã hội. Những gợi mở tại phiên họp khẳng định ý nghĩa của đối thoại và đồng sáng tạo, hướng tới nền quản trị công bao trùm, thích ứng và phục vụ tốt hơn người dân, doanh nghiệp.

Tiếp sau Phiên toàn thể 3, các đại biểu dự tọa đàm bàn tròn với chủ đề “Quan hệ đối tác vì Chính phủ sẵn sàng trước tương lai và phát triển bền vững”.

Phát biểu bế mạc Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 với chủ đề “Quản trị bao trùm trong kỷ nguyên phát triển mới: Chuyển đổi hệ thống, đổi mới sáng tạo và chính phủ sẵn sàng trước tương lai”, PGS.TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã tổng kết những vấn đề lý luận và chính sách đặt ra đối với quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới và nhấn mạnh: Những trao đổi tại diễn đàn cho thấy không có một mô hình quản trị chung nào cho mọi quốc gia.

PGS.TS Nguyễn Duy Bắc nêu rõ: Mỗi nước có lịch sử, thể chế, nguồn lực và điều kiện phát triển riêng. Giá trị của kinh nghiệm quốc tế không nằm ở việc sao chép một mô hình mà là ở khả năng giúp mỗi quốc gia hiểu rõ hơn những lựa chọn, những điều kiện tạo nên thành công và những giới hạn cần tính đến khi vận dụng vào thực tiễn của mình. Thế giới ở phía trước còn nhiều biến động với ngày càng nhiều vấn đề vượt qua biên giới của quốc gia. Mỗi quốc gia phải có đủ thực lực, trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ con đường phát triển của mình. Đồng thời sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc đòi hỏi năng lực hợp tác và trách nhiệm chung cao hơn của tất cả các quốc gia dân tộc.

(Với tinh thần cầu thị, bình đẳng và trách nhiệm, đất nước Việt Nam chúng tôi sẵn sàng học hỏi kinh nghiệm quốc tế từ các bạn đồng nghiệp, từ các chuyên gia, các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế; đồng thời cũng sẵn sàng chia sẻ những bài học đã đạt được qua bốn mươi năm đổi mới và quá trình cải cách của mình. Tôi mong rằng những trao đổi tại diễn đàn ba ngày vừa qua sẽ được tiếp nối bằng các nghiên cứu chung, các đối thoại chính sách, các chương trình đào tạo bồi dưỡng và các hoạt động hợp tác cụ thể giữa Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính và Quản trị Công với các tổ chức của Liên Hiệp Quốc, các học viện, trường đại học và đối tác quốc tế. Tri thức chỉ thực sự có giá trị khi trở lại với thực tiễn, giúp chúng ta hiểu vấn đề đúng hơn, xây dựng chính sách tốt hơn, nâng cao năng lực của công chức, viên chức, cải thiện dịch vụ công và phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn. Thế giới hòa bình hơn, nhân loại hạnh phúc hơn)- PGS.TS Nguyễn Duy Bắc, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh.

Diễn đàn quốc tế thường niên về quản trị công năm 2026 được đánh giá là sự kiện có uy tín về quản trị công trong khu vực và trên thế giới, kết nối nghiên cứu, chính sách và thực tiễn; tiếp nhận có chọn lọc tri thức và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời nghiên cứu, khái quát và chia sẻ ra với thế giới tri thức được hình thành từ thực tiễn đổi mới, cải cách và quản trị của Việt Nam. Diễn đàn góp phần nâng cao năng lực tự chủ về tri thức và quản trị phát triển, mở rộng hợp tác thực chất và tăng cường đóng góp của Việt Nam vào việc giải quyết những vấn đề chung về quản trị và phát triển trong khu vực và trên thế giới./.

Hà Nam-VOV1

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận