Giáo sư Carl Thayer: Việt Nam là một câu chuyện thành công toàn cầu về kinh tế - xã hội
VOV1 - Tháng 12/2026 đánh dấu tròn 40 năm quá trình Đổi mới của Việt Nam được bắt đầu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, trong đó đưa ra quyết sách bước ngoặt đánh dấu sự đổi mới tư duy, hoạch định đường lối đổi mới, củng cố niềm tin và đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn.

Giáo sư Carl Thayer bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam từ năm 1967 cho đến nay nên ông là một trong số ít nhà nghiên cứu nước ngoài quan sát toàn bộ quá trình Đổi mới của Việt Nam kể từ khi bắt đầu cho đến hiện tại. Trong quá trình này, Giáo sư Carl Thayer đã nhìn thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp với thu nhập thấp, trở thành một nền kinh tế toàn cầu năng động, nằm trong nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và dựa trên các ngành sản xuất, dịch vụ.

Giáo sư Carl Thayer khẳng định, trong quá trình này, những thành tựu quan trọng nhất mà Việt Nam đã đạt được thể hiện trong 3 lĩnh vực gồm tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và vị thế quốc tế.

Cụ thể, giáo sư Carl Thayer cho biết, về tăng trưởng kinh tế: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã tăng từ 8 tỷ USD năm 1986 lên hơn 514 tỷ USD hiện nay, tức tăng gấp 64 lần. Thu nhập bình quân đầu người đã tăng từ mức 200-300 USD lên hơn 5.000 USD. Việt Nam hiện đã hội nhập sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và đứng thứ 18 trong số các nền kinh tế xuất khẩu toàn cầu.

Về tiến bộ xã hội, Giáo sư Carl Thayer khẳng định Việt Nam đã giảm tỷ lệ người nghèo từ hơn 70% vào đầu những năm 1990 xuống còn dưới 1%, giúp hàng chục triệu người dân thoát khỏi cảnh đói nghèo. Tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành tại Việt Nam cũng đã thành đạt gần 99%. Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) hiện xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao, với mức tăng 50% trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2022. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên 73 tuổi.

Về vị thế quốc tế, Giáo sư Carl Thayer cho biết, vào những năm 1980, Việt Nam là một quốc gia tương đối bị cô lập, đến nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế nhìn nhận rộng rãi là một thành viên tích cực, đáng tin cậy và có đóng góp hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng quốc tế. Việt Nam đã hai lần được Nhóm Châu Á tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhất trí đề cử làm ứng viên cho ghế Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ. Trong cả hai lần đó, Việt Nam đều nhận được sự ủng hộ áp đảo và trở thành thành đại diện của Châu Á tại cơ quan này. Cách đây gần một năm, Việt Nam đã giành được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế khi đàm phán thành công Công ước Hà Nội về chống tội phạm mạng.

Để đạt được các thành tựu này, Giáo sư Carl Thayer khẳng định Việt Nam đã có nhiều quyết sách đúng đắn trong đó phải kể đến 3 chính sách đóng vai trò quyết định:

“Thứ nhất đó là xóa bỏ cơ chế hợp tác xã trong nông nghiệp và trao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân. Chính sách thứ hai là tự do hóa giá cả thông qua việc dỡ bỏ sự kiểm soát của nhà nước, đồng thời cho phép cạnh tranh và các yếu tố thị trường (như cung và cầu) quyết định giá cả đối với lương thực, nhiên liệu và nguyên vật liệu; điều này đã khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân trong nước nâng cao hiệu quả sản xuất. Chính sách thứ ba là hội nhập toàn cầu thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, các hiệp định thương mại tự do và phát triển Việt Nam thành một trung tâm sản xuất toàn cầu”.

Đổi mới không chỉ mang lại sự thay đổi về nền kinh tế xã hội, cuộc sống của người dân mà vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế cũng có sự chuyển biến rõ rệt. Trong đó, Việt Nam đã đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế và trở thành đối tác đáng tin cậy của bạn bè quốc tế trong lúc khai thác quan hệ với các đối tác và tổ chức quốc tế để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh, chính sách đối ngoại của Việt Nam đã có sự thay đổi rõ nét trên 3 khía cạnh:

“Thứ nhất, Việt Nam chuyển sang chính sách "là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước" thông qua việc đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Thứ hai, Việt Nam theo đuổi lộ trình hội nhập khu vực và toàn cầu thông qua chủ nghĩa đa phương. Việt Nam đã gia nhập ASEAN năm 1995, APEC năm 1998 và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, đồng thời tham gia 16 hiệp định thương mại tự do. Thứ ba, Việt Nam không còn lấy hệ tư tưởng làm kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại. Thay vào đó, Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại thực dụng dựa trên lợi ích quốc gia của chính mình”.

Sự thay đổi của nền kinh tế xã hội, cuộc sống của người dân không chỉ củng cố niềm tin của người dân vào Đảng, vào bộ máy nhà nước mà còn được cộng đồng quốc tế công nhận, đánh giá cao và coi là một câu chuyện thành công mang nhiều dấu ấn riêng:

 “Việt Nam được đánh giá rộng rãi là một câu chuyện thành công toàn cầu về phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong thương mại quốc tế. Các nhà đầu tư nước ngoài và chuyên gia thương mại coi Việt Nam là một điểm đến an toàn, có tính cạnh tranh cao và là lựa chọn thay thế đầy tiềm năng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế nhìn nhận là một thành viên độc lập, mang tính xây dựng và đáng tin cậy, thể hiện qua chính sách quốc phòng "4 không" cũng như nỗ lực duy trì sự tự chủ chiến lược”.

40 năm Đổi mới đã mang đến những chuyển tiến tích cực đối với cuộc sống của người dân và vị thế của đất nước. Tuy vậy, hành trình này cũng để lại những bài học quý giá, đặc biệt khi Việt Nam đang hướng tới mục tiêu mới trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Giáo sư Carl Thayer cho rằng, nếu tập trung cải thiện tốt những điều này sẽ giúp Việt Nam đạt được nhiều thành tựu lớn hơn trong tương lai:

 “Việt Nam đã rút ra bốn bài học quý giá sau bốn mươi năm Đổi mới. Thứ nhất là tạo điều kiện để các lực lượng thị trường và các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đóng góp vào phát triển kinh tế. Thứ hai, không ngừng hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua các quy định có tính dự báo cao, thực thi hợp đồng hiệu quả hơn, giảm thiểu rào cản hành chính và đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng. Thứ ba, liên tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng để thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và chuyển dịch sang năng lượng xanh. Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh hội nhập toàn cầu bằng cách nâng cao vị thế của các nhà cung ứng trong nước trong chuỗi giá trị toàn cầu và phát triển các tập đoàn đa quốc gia có năng lực cạnh tranh quốc tế”.

Các quyết sách của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mà Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra vào tháng 12/1986 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho Việt Nam mà ở đó đất nước ta đã chuyển mình mạnh mẽ, cuộc sống của người dân được cải thiện rõ rệt và Việt Nam trở thành một đối tác quan trọng, có nhiều tiềm năng và đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế. Những thành tựu này đã trở thành nền tảng để Việt Nam quyết tâm thực hiện những cải cách toàn diện, sâu sắc về quản trị quốc gia, về tổ chức bộ máy và mô hình phát triển với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045./.

     Việt Nga/VOV Australia

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận