Nghị quyết 79-NQ/TW: Doanh nghiệp Nhà nước - thành phần quan trọng của Kinh tế Nhà nước cần phải đổi mới mạnh mẽ!
VOV1 - Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu “Phấn đấu có 50 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 DNNN vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, DNNN mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế..."

Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị đã ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển Kinh tế nhà nước. Nghị quyết khẳng định “Kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Với vai trò chủ đạo, “Kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”. Nghị quyết 79 cũng yêu cầu khu vực doanh nghiệp nhà nước phải đẩy mạnh tái cơ cấu; tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động, áp dụng công nghệ tiên tiến, mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế.

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh những đóng góp to lớn của kinh tế nhà nước sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện tốt chức năng định hướng, dẫn dắt, điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế…

Trong các nền tảng của kinh tế nhà nước (bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập...) chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) ghi nhận và đánh giá cao đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhưng cũng đồng thời nhấn mạnh khu vực này cần phải thay đổi mạnh mẽ hơn.

"Trong 40 năm cải cách và phát triển vừa rồi của kinh tế Việt Nam thì chúng ta có cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bằng cách là chỉ giữ lại những doanh nghiêp có quy mô lớn, cho nên tại thời điểm hiện nay thì DNNN còn khoảng 800 doanh nghiệp, thì tất cả đều là những doanh nhập có quy mô lớn trong nền kinh tế. Và tôi thực sự đánh giá cao DNNN trong việc đảm bảo những cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt là cân đối về năng lượng và đảm hảo an ninh về năng lượng. Đồng thời với đó thì DNNN của chúng ta trong những lĩnh vực then chốt như là tài chính, ngân hàng, viễn thông… đó thực sự là những doanh nghiêp “đầu đàn” và đang dẫn dắt phát triển những ngành then chốt của nền kinh tế như vậy. Tuy nhiên thì chúng ta cũng nhìn thấy cần tiếp tục cái cải cách trong khu vực DNNN và mong muốn khu vực này sẽ có đóng góp, giữ vai trò lớn hơn nữa, và đặc biệt là hiệu quả hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước đã giao cho DNNN" TS Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Tại Nghị quyết 79-NQ/TW, những hạn chế, bất cập cần tập trung tháo gỡ nhằm phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong của khu vực kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng cũng đã được chỉ rõ.

Từ thực tế “các doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ; năng lực cạnh tranh quốc tế còn hạn chế; chưa đóng vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo và dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu…”, với các nguyên nhân được chỉ ra, Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu “Phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế; 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD”.

Tập đoàn Công nghiệp năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) - doanh nghiệp nằm trong top đầu trong bảng xếp hạng 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam luôn khẳng định vị thế doanh nghiệp quốc gia có lợi nhuận cao và vai trò nòng cốt trong nền kinh tế đang quyết tâm ghi tên vào danh sách 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới vào năm 2030. Ông Phạm Tuấn Anh - Thành viên HĐTV Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) nhìn nhận: "Tôi cho rằng, ở cấp độ vĩ mô cải cách thể chế, chính sách thì chúng ta cần phải hoàn thiện hơn cơ chế quản trị doanh nghiệp nhà nước hiện đại, tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu, điều hành, giám sát. Thứ hai là áp dụng mô hình quản trì công ty tiên tiến, ban hành Khung đánh giá hiệu quả DNNN theo giá trị gia tăng thay vì chỉ dựa trên doanh thu và lợi nhuận. Thứ ba là cơ chế phân bổ nguồn lực chiến lược, ưu tiên DNNN vào các lĩnh vực năng lượng, hạ tầng, công nghệ lõi, an ninh quốc gia, thị trường thiết yếu, và có cơ chế đặt hàng theo nhiệm vụ quốc gia thay vì trước đây chúng ta giao vốn hoặc là chỉ tiêu cứng. Chúng ta mở rộng hơn nữa  quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiêp.

Ở cấp độ doanh nghiệp, theo ông Phạm Tuấn Anh - Thành viên HĐTV Petrovietnam, "cần phải nâng cấp năng lực cạnh tranh, chuyển đổi số toàn diện, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, và lồng ghép các tiêu chí ESG trong đánh giá hiệu quả doanh nghiệp. Và quan trọng là đổi mới mô hình kinh doanh và đầu tư từ mô hình kinh doanh truyền thống sang mô hình dựa trên dịch vụ, giá trị dữ liệu và nền tảng; Và tăng tỉ trọng đầu tư và nghiên cứu phát triển đổi mới sáng tạo. Một nội dung nữa là quốc tế hóa doanh nghiêp. DNNN không chỉ phục vụ trong nước mà cần phải trở thành đầu tàu xuất khẩu dịch vụ công nghệ hạ tầng và hợp tác với các đối tác toàn cầu thông qua MNA, liên doanh hoặc nhượng quyền công nghệ…"

Đánh giá cao vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nước góp phần tăng trưởng kinh tế hai con số, phát triển đất nước nhanh và bền vững, TS. Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đưa ra số liệu đầu tư từ khu vực DNNN và cho rằng, việc tăng cường liên kết giữa khu vực này với khu vực doanh nghiệp tư nhân và FDI để tạo nên chuỗi giá trị là vô cùng quan trọng. "Tổng vốn đầu tư, tỷ trọng trong thuế của doanh nghiệp Nhà nước có xu hướng giảm, còn 12,2%, nhưng tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước trong đầu tư phát triển sản xuất thì lại lên tới 27,5%. Như vậy là tổng mức đầu tư trên vốn của doanh nghiệp Nhà nước cao hơn rất nhiều so với khu vực FDI và thành phần kinh tế khác. Phải chăng đây là lợi thế của doanh nghiệp Nhà nước khi thực hiện định hướng chiến lược kinh tế của đất nước?" - TS Nguyễn Đức Kiên đặt câu hỏi.

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển Kinh tế nhà nước cũng đã định hướng những nhóm giải pháp lớn để phát triển khu vực doanh nghiệp nhà nước, như: Tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp. Tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.

Theo đó, Nghị quyết 79-NQ/TW nhấn mạnh việc tập trung cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất, hiệu quả, giảm đầu mối, tăng quy mô nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh mới; Tiếp tục thực hiện lộ trình cổ phần hoá để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thu hút thêm sự tham gia từ các khu vực kinh tế khác nhằm tăng cường năng lực quản trị, cải thiện công nghệ, nguồn lực tài chính để doanh nghiệp phát triển sau cổ phần hoá. Việc cổ phần hoá phải bảo đảm không ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín và không làm thất thoát tài sản của Nhà nước…

Tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác để: (i) Đầu tư phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có hiệu quả cao. (ii) Đầu tư vào dự án trong các ngành, lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, có tính chất quan trọng đối với nền kinh tế. (iii) Triển khai đầu tư trực tiếp và hỗ trợ các nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài; thực hiện mua bán, sáp nhập để tiếp cận các công nghệ mới, công nghệ lõi, công nghệ và công nghiệp chiến lược hoặc vì mục tiêu lợi nhuận cao. Có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC tại các doanh nghiệp, bảo đảm việc cơ cấu lại doanh nghiệp, đầu tư vốn được thực hiện một cách hiệu quả, đúng giá thị trường và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.

Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường./.

Nguyên Long

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận