9 tháng năm 2026 ghi nhận những gam màu sáng trong xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường thành viên APEC. Nhóm hàng điện tử tăng trưởng khoảng 30,02%; xuất khẩu cà phê sang Trung Quốc tăng hơn 48% về lượng và trên 53% về trị giá. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường trọng điểm đạt 140 tỷ USD trong 9 tháng qua. Điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tiếp tục là mũi nhọn tăng trưởng mạnh, nhờ duy trì đơn hàng từ các Tập đoàn công nghệ lớn tại các thị trường APEC như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Trung Quốc. Bên cạnh đó, các mặt hàng như cà phê, thủy sản, gạch ốp lát và vật liệu xây dựng của các doanh nghiệp trong nước mở rộng mạnh sang các đối tác lớn trong khối. Theo thống kê của Bộ Công thương, hiện nay Việt Nam đã ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với 18 trên tổng số 21 nền kinh tế thành viên APEC (chiếm 13 trong số các FTA/khuôn khổ FTA mà Việt Nam tham gia). 7 nền kinh tế thành viên APEC hiện nằm trong top 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam lần lượt là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông - Trung Quốc, Malaysia và Singapore.
Hoa Kỳ tiếp tục duy trì vị thế là thị trường xuất khẩu trọng điểm với kim ngạch 9 tháng năm 2026 đạt 140 tỷ USD (tăng 24,2% so với cùng kỳ). Mặc dù vậy, dư địa tăng trưởng tại nước này đang chịu áp lực lớn từ các chính sách bảo hộ và tiêu chuẩn mới. Điều đáng nói là các biện pháp rào cản thuế quan gia tăng. Mức thuế 12,5% áp dụng từ ngày 24/7/2026 theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ 1974 liên quan đến vấn đề lao động, thay thế cho mức 10% tạm thời trước đó theo Mục 122 đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh về giá của hàng Việt. Hơn nữa thách thức từ tiêu chuẩn phi thuế quan cũng là điều đáng nói. Thị trường Hoa Kỳ đang dịch chuyển nhanh chóng sang các tiêu chuẩn khắt khe về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch, kiểm soát chặt chẽ xuất xứ nguồn gốc và minh bạch hóa toàn bộ chuỗi cung ứng. Các ngành xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản, điện tử, thép và nông sản chế biến là những nhóm đối tượng chịu tác động rõ rệt nhất. Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ đề xuất giải pháp: “Thứ nhất là xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với những ngành có nguy cơ cao như dệt may, da dày, đổ gỗ, thủy sản, thép, nhôm, điện tử, máy móc và nông sản chế biến. Thứ hai là tiếp tục xây dụng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu thị trường trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công thương do Vụ Thị trường ngoài nước quản lý. Qua đó là bao gồm các chính sách thuế quan, phòng vệ thương mại và các tiêu chuẩn kỹ thuật. Thứ ba, đó là hỗ trợ doanh nghiệp để tăng cường năng lực tuân thủ trong bối cảnh hiện nay Hoa Kỳ rất là coi trọng với xuất xứ, môi trường, minh bạch chuỗi cung ứng. Việc mà các doanh nghiệp chủ động xây dựng hồ sơ, sẵn sàng có thể tham gia trong các vụ việc điều tra thì rất là tốt trong quá trình sắp tới và cuối cùng là gắn công tác xúc tiến thương mại với việc tiếp cận mua hàng, tiến tới cân bằng cán cân thương mại, thì cũng là nhiệm vụ chính mà Chính phủ giao cho Bộ Công thương cũng như là các hiệp hội ngành hàng”.
Trong 9 tháng năm 2026, xuất siêu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt 2,65 tỷ USD, tăng 85,9% so với cùng kỳ năm trước. Theo ông Tạ Đức Minh, Tham tán thương mại Việt Nam tại Nhật Bản, dù kinh tế toàn cầu còn nhiều khó khăn, nhưng thương mại Việt Nam - Nhật Bản vẫn duy trì ổn định và có dấu hiệu phục hồi tích cực. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản gồm dệt may, nông sản chế biến, điện tử và linh kiện; trong khi nhập khẩu chủ yếu là: máy móc, công nghệ, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất. Ông Tạ Đức Minh nhấn mạnh: “ Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hiện đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất từ trước đến nay. Hai nước hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực, từ cấp trung ương đến địa phương. Nhật Bản là một trong số ít quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam. Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến tình hình hợp tác của các doanh nghiệp Nhật Bản với doanh nghiệp Việt Nam, luôn tạo điều kiện tốt nhất để giải quyết kịp thời, tháo gỡ khó khăn và triển khai các biện pháp hỗ trợ cần thiết để thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản”.
Các thị trường thành viên APEC ngày càng siết chặt yêu cầu về chứng nhận sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, kiểm dịch và tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững. Mỗi thị trường nhập khẩu sẽ có những rào cản riêng, mà doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần tìm hiểu kỹ. Đơn cử như tại thị trường Indonesia, với dân số 290 triệu người, trong đó 87% dân số theo đạo Hồi, 47 triệu người tầng lớp trung lưu, tăng trưởng kinh tế khoảng 5%/năm, giá trị tiêu dùng sản phẩm halal ước tính khoảng 330 tỷ USD trong năm 2025, thị trường Halal của Indonesia đang mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, ông Phạm Thế Cường, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Indonesia nhấn mạnh bài học kinh nghiệm: “Thứ nhất là để có thể thâm nhập thị trường Indonesia thành công thì trước hết phải hiểu biết về văn hóa Indonesia, về phương thức kinh doanh và sở thích người tiêu dùng. Thứ hai là doanh nghiệp cần chủ động xin chứng nhận Halal, vì kinh nghiệm thực tế cho thấy các doanh nghiệp các nước như là Thái Lan, Hàn Quốc đều chủ động xin cấp chứng nhận Halal trước khi tiếp cận nhà nhập khẩu, nhà phân phối Indonesia, bởi vì là khi mà tiếp cận với nhà nhập phân phối Indonesia thì câu hỏi đầu tiên nhà nhập khẩu sẽ hỏi là doanh nghiệp đã có chứng nhận Halal của Indonesia chưa”
Tuy nhiên việc tiếp cận thị trường này đòi hỏi các doanh nghiệp của Việt Nam phải vượt qua những rào cản kỹ thuật đặc thù của mỗi nền kinh tế APEC, từ sự khác biệt về tiêu chuẩn, quy chuẩn, chứng nhận của từng quốc gia đến yêu cầu kiểm soát chuỗi cung ứng nghiêm ngặt, hạ tầng logistic chuyên biệt. Trong đó, việc tự đổi mới và liên kết chặt chẽ trong chuỗi giá trị là chìa khóa then chốt. Bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Hợp tác xã Hà Nội Xanh, chia sẻ góc nhìn từ cơ sở sản xuất: “Đối với chúng tôi là đơn vị sản xuất thì chúng tôi sẽ chuẩn hóa toàn bộ mọi hệ thống sản phẩm của mình, đầu tư hạ tầng bài bản để làm sao có thể đáp ứng được nhu cầu và tâm lý chung của các doanh nghiệp nước ngoài khi tới Việt Nam. Một trong những tâm lí của họ đó là họ rất thích đến trực tiếp nhà máy để nhìn toàn bộ chuỗi tuân thủ của các doanh nghiệp, và theo tôi cần liên kết chuỗi và cùng nhau xây dựng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì với lợi thế hệ thống sản phẩm có sẵn thì hoàn toàn có thể gia nhập thị trường này và chúng ta cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái thì chắc chắn là sẽ thay đổi được rất là nhiều” .
Có thể thấy, tận dụng tốt các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) cùng sự chủ động trong khâu chuẩn hóa sản phẩm và minh bạch chuỗi cung ứng chính là tấm vé thông hành vững chắc giúp hàng hóa Việt Nam vươn xa và cắm rễ vững chắc tại các thị trường thành viên APEC trong giai đoạn mới./.
Bình luận