Việt Nam cần làm gì để thu hút nguồn lực quốc tế, phát triển công nghệ, hiện đại hóa hệ thống năng lượng và bảo đảm đủ năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng cao?
Theo PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân, yêu cầu đặt ra là phải chủ động từ quy hoạch, danh mục dự án đến hợp tác công nghệ và đổi mới mô hình phát triển ngành năng lượng.
PV: Theo số liệu được đưa ra tại Hội nghị Bộ trưởng Năng lượng APEC lần thứ 16 diễn ra tại Bắc Kinh, đầu tư năng lượng toàn cầu năm 2026 dự kiến khoảng 3,4 nghìn tỷ USD, trong đó khoảng 2,2 nghìn tỷ USD dành cho năng lượng sạch. Việt Nam cần chuẩn bị như thế nào để không chỉ tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh mà còn thu hút được một phần đáng kể dòng vốn này?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: Đây là một cơ hội rất tốt cho Việt Nam. Vì dòng vốn toàn cầu đang dịch chuyển, mà Việt Nam lại là nơi hấp dẫn đầu tư trong đó có ngành năng lượng. Vì thế tôi nghĩ chúng ta cần phải quy hoạch lại hệ thống năng lượng Việt Nam vượt qua quy hoạch điện 8 điều chỉnh. Chúng ta nên nâng cấp nó lên theo hướng tăng tỷ lệ của năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng xanh, giảm bớt cái năng lượng hóa thạch.
Nghĩa là chúng ta ví dụ đến 2030 đặt mục tiêu trước đây là 30% chẳng hạn, thì nay nên đẩy tỷ lệ năng lượng xanh, sạch, năng lượng tái tạo này lên 35 đến 40%. Chúng ta mạnh dạn điều chỉnh con số đó. Thứ hai là chúng ta cần phải có những đại dự án để có thể hấp thụ vốn này, công khai dự án, danh mục dự án ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam. Ta phải công bố danh mục dự án và những yêu cầu của dự án này về năng lượng. Chẳng hạn như là điện gió, điện mặt trời, rồi sinh khối này, rồi năng lượng hydrogen, ammoniac.v.v. thì tôi nghĩ là chúng ta phải có dự án rất cụ thể để mời gọi đầu tư.
Và dự án này phải định lượng ra là bao nhiêu tiền, cần vài chục nghìn tỷ, mấy chục tỷ đô la phải có con số rõ ràng. Rồi chúng ta cần phải có nữa là cơ cấu công nghiệp của chúng ta là hướng công nghiệp bán dẫn, công nghiệp sử dụng năng lượng xanh, năng lượng sạch, rồi công nghiệp AI, công nghiệp robot hay là công nghiệp luyện kim của chúng ta cần năng lượng bao nhiêu.v.v.v.
Thì tôi nghĩ là chúng ta phải tính toán thêm bảng cân đối năng lượng quốc gia. Rồi cái tiếp theo theo tôi nghĩ là chúng ta cũng phải có các hoạt động xúc tiến, kêu gọi, mời gọi bằng cơ chế chính sách, một là bảo hộ về vốn đầu tư, hai là chúng ta có vốn đối ứng, thứ ba là chúng ta là có một thị trường năng lượng rộng lớn trên cơ sở là phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với những khu công nghệ cao, khu công nghiệp cao, với rất nhiều khu đô thị mới, trung tâm thương mại mới và những cái đại dự án mới.
Chúng ta phải làm một cách đồng bộ và quyết liệt như vậy và tính mức đầu tư của chúng ta là bao nhiêu, cần bao nhiêu, kêu gọi dự án nào từ nguồn nguồn chính phủ, nguồn ngân sách, nguồn vốn đầu tư quốc tế và thậm chí chúng ta phải phát hành trái phiếu, trái phiếu năng lượng, tài sản mã hóa để có thị trường rộng hơn. Do đó việc phát huy nhanh chóng hai trung tâm vai trò của hai trung tâm tài chính quốc tế ở tp HCM và Đà Nẵng gắn với đó là phát triển cái thị trường của năng lượng này trong điều kiện mới.
Cộng với đó là tôi nghĩ chúng ta cũng phải đưa ra những yêu cầu về thiết bị năng lượng, yêu cầu về nhân lực năng lượng và yêu cầu của chúng ta về những sản phẩm sử dụng năng lượng để tất cả những cái đó nó gắn với quy mô xuất nhập khẩu của Việt Nam trong vòng khoảng 3-5 năm tới có thể là từ 1200 tỷ lên 1500 tỷ ta sẽ xếp khoảng thứ 15 của thế giới.
Tôi nghĩ chúng ta phải công bố những con số lớn, những con số mà bây giờ tiềm năng của Việt Nam tăng trưởng rất nhanh. Chúng ta nói là tăng trưởng hai con số, ví dụ 10% thì năng lượng phải tăng trưởng 15-17%. Như vậy có nghĩa là sự bùng nổ thị trường năng lượng nó sẽ là cái yếu tố hấp dẫn các dòng vốn đầu tư thuộc mọi thành phần, thuộc mọi nguồn vào Việt Nam.
Công tác thông tin tuyên truyền, công tác xúc tiến, rồi công tác quy hoạch, rồi công tác thiết kế lại cơ cấu kinh tế, cơ cấu năng lượng thì tôi nghĩ những thông tin đó nó sẽ là cái yếu tố đặc biệt quan trọng để chúng ta lôi kéo được những cái gọi là những cái gọi là đại gia về công nghệ của thế giới có thể đến với Việt Nam và kể cả ngành công nghiệp năng lượng Việt Nam với các tập đoàn năng lượng quốc gia cũng có điều kiện để phát triển. Nghĩa là đây là một cơ hội rất tốt mà có thể gọi là khả năng sinh lợi quá lớn.
APEC tôi cho rằng là một trong những diễn đàn quốc tế mà Việt Nam nên thông báo rộng rãi và đây là cơ hội của Việt Nam năm 2027 là Việt Nam nên công bố kỹ thông tin về năng lượng Việt Nam. Đây là lúc là các nhà năng lượng ở bên Việt Nam để họ đầu tư mà mình không đưa thông tin ra thì tôi nghĩ là không còn cơ hội nào nữa tốt hơn nữa. Cho nên 2027 là năm mà tôi nghĩ có lẽ đây là cơ hội ngàn năm có một. Cơ hội mà gọi là hiếm có thì Việt Nam nên làm kỹ về cái này, về vấn đề là chào mời năng lượng, vấn đề gọi là công bố về các dự án năng lượng mới, về công bố về lộ trình phát triển thế giới mới, về công bố về mô hình phát triển mới.
Tất cả những cái đó chúng ta làm kỹ thì chắc chắn là sẽ hút được một điểm gặp gỡ của năm 2027 sẽ là bước ngoặt lịch sử. Chúng ta phải coi như đó là cái điểm ngoặt lịch sử của lịch sử ngành phát triển gọi là ngành năng lượng Việt Nam.
PV: APEC cũng đặt trọng tâm vào kết nối khu vực, hiện đại hóa lưới điện, lưu trữ năng lượng, năng lượng tái tạo và tăng cường sự cộng hưởng giữa AI với năng lượng. Theo ông, Việt Nam nên lựa chọn những lĩnh vực nào để tạo lợi thế cạnh tranh và hình thành các động lực tăng trưởng mới từ quá trình chuyển đổi năng lượng?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: Chúng ta cũng đã có Nghị quyết 57, tăng cường nghiên cứu phát triển đầu tư khoa học công nghệ, chuyển đổi số thì tôi nghĩ là chúng ta phải coi trọng cái vấn đề một là đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành năng lượng. Cái thứ hai nữa là nên đầu tư vào nghiên cứu phát triển năng lượng mới và thứ ba nữa là nên tích hợp hóa AI vào sản xuất các thiết bị năng lượng mang nhãn hiệu Việt Nam. Thứ tư nữa là chúng ta cũng phải nghiên cứu để xây dựng các mô hình, các hệ sinh thái năng lượng phát triển mới.
Tôi nghĩ là các lĩnh vực này thì Việt Nam đều có thế mạnh cả, chúng ta có rất nhiều tiềm năng về phát triển năng lượng và chúng ta có năng lực con người rất là thông minh thông thái, phải phát huy được cái đó.
Và thứ ba là chi phí nghiên cứu phát triển của Việt Nam là sẵn sàng để đón nhận công nghệ nước ngoài. Tôi nghĩ những cái đó là tiếp nhận công nghệ, giải mã công nghệ, phát triển công nghệ năng lượng và chúng ta gọi là đặc biệt là công nghệ lưu trữ, công nghệ liên quan đến tiết kiệm năng lượng. Những công nghệ mà liên quan đến sử dụng năng lượng tái tạo mà Việt Nam có nhiều nắng nhiều gió, thì tôi nghĩ những cái đó là chúng ta phải đưa ra và đặc biệt là sâu ra những cái thế mạnh mà Việt Nam đang có sẵn thì tôi nghĩ cái đó nó là cái mà Việt Nam nên gọi là cái gọi là điểm từ lịch sử để lôi kéo cái dòng đầu tư của các nước vào Việt Nam.
PV: Về đối tác, mỗi nền kinh tế trong APEC có thế mạnh về quản trị, nguồn vốn, công nghệ khác nhau. Vậy đâu là những đối tác mà Việt Nam có thể đi sâu hơn và chuyển từ hợp tác chính sách sang các dự án đầu tư cụ thể?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: Đây là một trong những câu hỏi thú vị. Nếu như với năng lượng xanh, năng lượng sạch thì tôi nghĩ Trung Quốc là nước mà có nhiều thành tựu, tôi nghĩ là hợp tác Trung Quốc về cái đó chẳng hạn, như năng lượng mặt trời Trung Quốc làm tốt, rồi thủy điện Trung Quốc làm tốt, rồi kể cả sử dụng AI trong năng lượng họ cũng làm tốt.
Còn về tiết kiệm năng lượng thì nên học mô hình Nhật Bản; về quản trị năng lượng thông minh tôi nghĩ nên học Hàn Quốc, rồi tiếp theo nữa là sử dụng năng lượng mà vào cho công nghệ cao nên học Đài Loan.
Tôi nghĩ mỗi nước đều có một thế mạnh, cho nên Việt Nam có thể nhặt ít nhất là năm kinh nghiệm của các nước. Một là Nhật Bản về tiết kiệm năng lượng; Thậm chí là cả lưu trữ năng lượng Nhật Bản cũng tốt và phần phát triển hydrogen thì Nhật Bản cũng là nước mà có cái điểm vượt trội các nước khác.
Thứ hai là việc thủy điện thì tôi nghĩ là Trung Quốc, và thứ ba là Hàn Quốc sử dụng mô hình quản lý điện thông minh, quản lý năng lượng thông minh này, còn Đài Loan là sử dụng năng lượng xanh sạch vào phát triển công nghệ bán dẫn đứng số một thế giới.
Rồi chưa nói là Singapore là một mô hình gọi là năng lượng xanh sạch nữa, cho nên tôi nghĩ là những nước càng phát triển bao nhiêu thì mô hình năng lượng của họ càng tân tiến bấy nhiêu và đó là những bài học mà Việt Nam có thể học tập một cách rất là toàn diện.
Đặc biệt là hệ sinh thái năng lượng mà tôi nghĩ rằng là của Singapore. Tôi nghĩ cái đó là một trong những điều chúng ta nên học hỏi một cách kỹ lưỡng để áp dụng theo thay vì bỏ thời gian tự mày mò nghiên cứu.
Những cái đó chúng ta nên tranh thủ học ngay. Mỗi nước chúng ta học họ cái tốt nhất, còn nếu chúng ta mà tổ hợp được tất cả những cái đó lại thì chắc chắn là mô hình của chúng ta là sẽ mô hình tối ưu.
PV: Nếu nhìn trong trung và dài hạn, theo ông, Việt Nam cần làm gì để chuyển đổi năng lượng không chỉ là yêu cầu thực hiện các cam kết về khí hậu, mà thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng và không để chi phí chuyển đổi trở thành gánh nặng đối với doanh nghiệp và người dân?
PGS TS Nguyễn Thường Lạng: Vấn đề đầu tiên là chúng ta phải đổi mới ngay nội bộ của ngành công nghiệp năng lượng. Đặc biệt chẳng hạn như ngành mà sử dụng rất nhiều năng lượng hóa thạch, năng lượng truyền thống thì tôi nghĩ cái đó chúng ta nên cố gắng là giảm thiểu và thậm chí là chúng ta gọi là đóng cửa một số cái.
Thứ hai là chúng ta phải đầu tư rất lớn vào những dự án năng lượng xanh, sạch rồi phải đầu tư nghiên cứu phát triển làm chủ công nghệ càng sớm càng tốt, sử dụng tích hợp các loại công nghệ, thậm chí sử dụng tinh hoa của các nước để chúng ta đầu tư vào những lĩnh vực năng lượng mới như là năng lượng mặt trời chẳng hạn.
Hai là năng lượng hạt nhân chẳng hạn, rồi thứ ba là năng lượng gió thì tôi nghĩ là chúng ta có rất nhiều tiềm năng đã dùng hết đâu. Đó là chưa nói năng lượng sinh khối, rồi năng lượng ammoniac và năng lượng hydrogen. Tôi nghĩ chúng ta nên đầu tư nghiên cứu phát triển để làm mạnh cho tôi cái đó và cái đó là cái mà nó là lâu dài, nó là bền vững, còn mình không làm được cái đó mình không bao giờ có được cái tự chủ về năng lượng thực chất mà chỉ là dựa vào một ai đó.
Cái thứ hai nữa tôi nghĩ là chúng ta cũng nên là coi trọng việc thiết kế lại cái hệ thống năng lượng Việt Nam theo hướng mới, nghĩa là theo hướng xanh, sạch, tối ưu, hiện đại, tiết kiệm năng lượng bền vững và có khả năng để chịu được những cú sốc về năng lượng và đặc biệt ở đây là phục vụ cho mô hình tăng trưởng cao. Nghĩa là chúng ta phải có đủ nguồn năng lượng dồi dào cho tăng trưởng hai con số ít nhất kéo dài liên tục trong vòng 7 đến 10 năm. Ít nhất nhá, còn tất nhiên dài hơn càng tốt.
Và thứ ba chúng ta nên có hình thành những tập đoàn năng lượng xếp vào top những tập đoàn năng lượng hàng đầu thế giới chẳng hạn. Đây là điều quan trọng vì chúng ta phải có tập đoàn năng lượng mạnh, chúng ta phải có con sếu đầu đàn về năng lượng mạnh, có khả năng gây ảnh hưởng trong trong cả nước, khu vực kéo theo uy tín về công nghệ, uy tín về tài chính, uy tín về mô hình quản trị. Cho nên phải có những cái tập đoàn năng lượng mạnh thôi và chúng ta phải hợp tác quốc tế, chẳng hạn chúng ta có thể kết nối với Singapore rồi nối mạng điện ASEAN, kết nối với Trung Quốc để kết nối mạng điện với Trung Quốc, rồi kết nối mạng điện với Lào.
Tôi nghĩ là vừa phát triển bên trong lại vừa kết hợp với bên ngoài, lại vừa đổi mới công nghệ lại vừa thay đổi mô hình kinh doanh, thì tôi nghĩ những cái đó là chúng ta phải làm ngay và đặc biệt chúng ta phải rà soát lại cái quy hoạch điện 8 điều điều chỉnh theo hướng mới của APEC, phải điều chỉnh lại cái đó để chúng ta có một cái đường đi chiến lược nó tối ưu hơn, nó đồng bộ hơn, đi được xa hơn và đi nhanh hơn.
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng về cuộc trao đổi này!
Bình luận
Tin liên quan
Hợp tác năng lượng APEC: Mở thêm không gian tăng trưởng xanh cho Việt Nam