Các văn kiện này bao gồm: “Tầm nhìn và Hành động của APEC về Năng lượng chất lượng cao và bao trùm”, “Khuyến nghị chính sách của APEC về Tăng cường sức mạnh cộng hưởng giữa AI và Năng lượng (giai đoạn 2026 – 2030)”, và “Quy tắc không mang tính ràng buộc của APEC về thúc đẩy sự cộng hưởng trong an ninh năng lượng”.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng sạch tăng nhanh, đầu tư toàn cầu đang dịch chuyển mạnh sang năng lượng tái tạo, lưới điện và lưu trữ, thỏa thuận của APEC mở ra không gian hợp tác lớn cho các nền kinh tế thành viên, trong đó có Việt Nam. Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần làm gì để chuyển những cam kết và định hướng hợp tác này thành các dự án cụ thể, thu hút nguồn lực, công nghệ và đầu tư, qua đó tạo thêm động lực cho tăng trưởng.
Chúng tôi có cuộc trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân về nội dung này:
PV: Thưa chuyên gia, trước hết ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của việc các nền kinh tế APEC đạt đồng thuận và thông qua Tuyên bố chung về hợp tác năng lượng trong bối cảnh an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi xanh đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: APEC có 21 nền kinh tế thuộc diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Và khu vực này có tiềm lực về GDP, tiềm lực về công nghệ, tiềm lực về dân số, tiềm lực về trí tuệ rồi cả nguồn vốn đều rất lớn. Và trong điều kiện cái thế giới bây giờ đang chuyển dịch năng lượng với tốc độ rất nhanh, từ năng lượng hóa thạch, năng lượng truyền thống sang năng lượng xanh, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng gọi là phi truyền thống thì tôi nghĩ là sứ mệnh của các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC phải làm việc này là đúng.
Bởi vì ngành công nghiệp năng lượng là ngành công nghiệp nền tảng, là ngành công nghiệp có khả năng tạo đột phá cho sự phát triển. Cho nên nếu như các nước mà không có sự đồng thuận cao về việc này thì có nghĩa là yếu tố nền tảng cho sự phát triển bền vững của APEC sẽ bị thiếu đi và sẽ mất chi phí cơ hội để sau này các nước lại tiếp tục đầu tư thì chi phí rất lớn.
Hơn nữa là theo góc nhìn của tôi: Trung Quốc là một trong những nền kinh tế đi đầu trong vấn đề chuyển dịch cơ cấu năng lượng và bây giờ năng lượng xanh, năng lượng sạch Trung Quốc chiếm cũng khoảng trên 30% rồi. Và Trung Quốc đang xây dựng một nhà máy thủy điện lớn gấp 3 lần đập Tam Hiệp, nhà máy thủy điện Tam Hiệp thì chắc chắn Trung Quốc đang có chiến lược là dẫn đầu năng lượng xanh. Mỹ rồi Nhật Bản .v.v. kể cả ASEAN là trong vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương này, cả Nga nữa cũng phải theo một cái xu hướng chung.
Cho nên thông qua Tuyên bố chung và nhiều văn kiện quan trọng về năng lượng, chuyển đổi xanh thì đây là một trong những động thái tạo nền tảng nhận thức chung, hai là có sự đồng thuận cao và thứ ba nữa đây là một trong những cơ hội để phát triển ngành công nghiệp năng lượng. Thứ tư là tạo sự đoàn kết của các nước, các nền kinh tế về mặt chính sách, về mặt đào tạo con người, về mặt phát triển công nghệ, về mặt nghiên cứu phát triển và đặc biệt nó sẽ đẩy nền kinh tế APEC này lên một cái trình độ cao mới, tức là được chuyển sang kinh tế xanh, kinh tế sạch, kinh tế thông minh, kinh tế bền vững và làm cho cả cái cấu trúc kinh tế của của APEC này sẽ có sự thay đổi.
Và điều đó tôi đánh giá rất cao là triết học sẽ thay đổi, công nghệ thay đổi, con người thay đổi và cái sự thịnh vượng của con người sẽ tăng lên, của APEC sẽ tăng lên.
PV: Một điểm đáng chú ý của Tuyên bố chung là APEC không áp dụng một công thức chuyển đổi năng lượng giống nhau cho tất cả các nền kinh tế, mà tôn trọng sự khác biệt về nguồn lực và trình độ phát triển. Theo ông, cách tiếp cận này có ý nghĩa như thế nào đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi nghĩ đây là cách làm cũng rất phù hợp mà trong ASEAN cũng có câu nói: Unity in Diversity, nghĩa là thống nhất trong đa dạng, chúng ta chỉ thống nhất về nguyên tắc, còn cái cách làm của các quốc gia, các nền kinh tế sẽ rất khác nhau như Trung Quốc là đi đầu, làm nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới, thêm một lần gấp 3 lần nhà máy lớn nhất thế giới bây giờ thì chưa có nước nào theo kịp.
Hai là tiềm lực từng quốc gia cũng rất khác nhau và thứ ba nữa là sự lựa chọn chính sách cũng rất khác nhau, thứ tư là trình độ xuất phát cũng rất khác nhau, cho nên không thể áp dụng một mặt bằng chung cho tất cả một mẫu số chung được.
Và cách làm như thế này cũng thể hiện được sự tôn trọng chính sách của các nước, cái thứ hai là để các nền kinh tế có sự sáng tạo, và thứ ba nữa là tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau thì anh lớn, anh khỏe, anh giàu, anh công nghệ cao hỗ trợ anh trung bình, anh trung bình khá và anh thấp.v.v.v thì tôi nghĩ là nó tạo ra một cái hệ thống đa tầng về năng lượng.
Cái thứ nữa là nó tạo ra sự bổ sung cho nhau và thứ tạo ra ra một cấu trúc năng lượng mới, nghĩa là không loại trừ lẫn nhau mà lại đi từng bước tuần tự, có những anh đi tuần tự, có những anh đi nhanh, có những anh đi tắt đón đầu. Chẳng hạn như Singapore, họ là một quốc đảo đã xanh sạch đẹp rồi, thế bây giờ mình lại quay lại chẳng hạn như Việt Nam mình thì bây giờ là điện than vẫn còn, rồi kể cả là mình bây giờ là những thiết bị năng lượng còn lạc hậu.
Thì tôi nghĩ là mỗi nước sẽ có một điều kiện riêng hay gọi là mỗi nhà mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Tôi nghĩ làm được cái này là tôn trọng chính sách của các quốc gia, các nền kinh tế; thứ hai nữa là không dùng năng lượng để làm chính trị và cái thứ ba là tạo cho các nền kinh tế tự lựa chọn con đường mình coi là thông minh nhất, ngắn nhất và tăng quyền tự chủ năng lượng cho các nền kinh tế để tránh tình trạng bị nước ngoài thâu tóm và anh đã bị thâu tóm cái này thì anh sẽ bị thâu tóm cái khác và như vậy là dẫn đến tình trạng ở chỗ là nó mất cái tính độc lập chủ quyền của các quốc gia.
Cho nên là vừa bảo đảm được tính độc lập, vừa bảo đảm được tính phụ thuộc trong chính sách năng lượng và đây là một trong những cái điều kiện để các nền kinh tế từ chủ động, tích cực, sáng tạo và rất tự giác chứ không đòi hỏi của một áp lực nào cả. Và tất cả theo cái tiếng gọi của thị trường, tiếng gọi của chuẩn mực, tiếng gọi của sự thịnh vượng.
PV: APEC hiện chiếm khoảng 60% GDP và khoảng 60% nhu cầu năng lượng toàn cầu. Với quy mô như vậy, việc tăng cường hợp tác trong khuôn khổ APEC có thể tạo ra những thay đổi như thế nào đối với dòng vốn, công nghệ và chuỗi cung ứng năng lượng sạch trong khu vực?
Theo tôi với một tiềm lực rất lớn, quy mô rất lớn như vậy thì chắc chắn sức hút sẽ rất lớn. Một là sức hút về nguồn đầu tư vào năng lượng. Chẳng hạn tôi thấy ngân hàng phát triển nhà Châu Á ADB cũng đã có những chiến lược về phát triển năng lượng này rồi, đặc biệt là tài trợ cho những dự án có thể là 30, 40 năm. Thứ hai là ngân hàng đầu tư phát triển hạ tầng Châu Á, ngân hàng đầu tư của AIIB đặt trụ sở tại Trung Quốc cũng đã có chiến lược này. Và chưa kể là Mỹ cũng đã có chiến lược là chuyển dịch dần cơ cấu năng lượng theo hướng năng lượng hydrogen theo cái lượng LNG chẳng hạn.
Và Nhật Bản chắc chắn cũng thế, Hàn Quốc cũng vậy thôi, và thậm chí là các cái vùng lãnh thổ Đài Loan tôi thấy cũng đã quyết liệt rồi, toàn những anh đứng đầu cả. Điều này sẽ một là, nó tạo ra nền tảng cho sự phát triển công nghệ năng lượng sang giai đoạn mới, nghĩa là lên một cấp độ mới về công nghệ.
Thứ hai nữa là thị trường vốn tôi cho rằng sẽ rất là sôi động, bởi vì người ta đầu tư vào ngành này là nhận được ưu đãi của chính phủ, nhận được sự tích hợp của rất nhiều nỗ lực và đặc biệt ở đây là tất cả các nền kinh tế là đều hướng vào một mục đích chung. Cho nên sẽ tránh được lãng phí, tức là những cái anh đi trước mà có thành công tốt sẽ chuyển giao cho anh sau. Điều đó dẫn đến giảm bớt được những xung đột về lợi ích của các quốc gia và nó tạo ra được là về một cái hệ thống năng lượng mới, một cái hệ sinh thái phát triển năng lượng mà tôi cho rằng nó rất là tốt. Do đó nó sẽ là thúc đẩy tăng trưởng và sẽ hút được các dòng vốn đầu tư trên toàn cầu và thậm chí nó có thể xuất hiện những trái phiếu năng lượng, thậm chí cả là những thị trường tài chính năng lượng và vấn đề cao hơn nữa có thể là những nguồn mà gọi là gọi là tài sản mã hóa cũng được đưa vào các công trình năng lượng. Bởi vì cái khả năng sinh lời của nó rất lớn. Cái hệ số K của nó, hệ số gọi là tăng trưởng kép hàng năm có thể là lên tới 15-20%.
Đây là ngành mà có khả năng thu hút vốn nhiều, ngành mà có thị trường lớn và ngành là nền tảng của các ngành khác, người gọi là công nghệ công nghiệp năng lượng là ngành công nghiệp nền tảng cho các ngành công nghiệp khác, như là công nghiệp cơ khí chính xác, ngành công nghiệp hỗ trợ, ngành công nghiệp xuất khẩu, ngành công nghiệp đóng tàu, ngành công nghiệp cơ khí, ngành công nghiệp AI, ngành công nghiệp liên quan đến cả chất bán dẫn. Tôi nghĩ nó sẽ tạo ra được cả một bộ mặt mới về công nghệ, bộ mặt mới về tài chính, bộ mặt mới về thị trường và tất cả những điều đó chắc chắn nó sẽ đẩy nhanh cái tốc độ tăng trưởng của khu vực này (APEC) tôi nghĩ là có thể đứng đầu thế giới.
PV: Việt Nam xác định ba ưu tiên là tăng cường an ninh và khả năng chống chịu của hệ thống năng lượng; đẩy nhanh chuyển đổi năng lượng sạch và công bằng; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đầu tư và kết nối khu vực. Theo ông, cơ hội lớn nhất đối với Việt Nam từ những định hướng hợp tác mới của APEC nằm ở đâu?
PGSTS Nguyễn Thường Lạng: Tôi nghĩ cơ hội lớn nhất ở đây là chúng ta học hỏi được kinh nghiệm của các nền kinh tế, có thể như Trung Quốc chẳng hạn hay một số nền kinh tế phát triển cao như Nhật Bản hay một số nước có những mô hình về năng lượng xanh, năng lượng sạch, tiết kiệm năng lượn. Rồi mô hình quản trị năng lượng thông minh như của Hàn Quốc chẳng hạn, rồi dùng cả tất cả hệ thống thông minh chẳng hạn. Tôi cho rằng một là tiết kiệm năng lượng, hai là mô hình năng lượng xanh, ba là mô hình gọi là hệ sinh thái năng lượng mà dựa trên cơ sở là năng lượng thông minh.
Chúng ta có thể học ít nhất là ba kinh nghiệm đó. Thứ hai nữa là chúng ta cũng có cơ hội để phát triển thị trường năng lượng Việt Nam, chúng ta cũng có những thị trường phát hành những cái trái phiếu về năng lượng, rồi chúng ta có thể là các tập đoàn năng lượng Việt Nam tầm cỡ. Bây giờ có cơ hội để đẩy mới đổi mới nghiên cứu phát triển, đầu tư vào nghiên cứu phát triển để tiếp cận công nghệ mới và chúng ta cũng có thể đầu tư vào phát triển để chuyển dịch mô hình quản trị năng lượng, và có thể đầu tư vào những công nghệ để sử dụng tiết kiệm năng lượng.
Nói chung là chúng ta có cơ hội để đổi mới hoàn toàn, refresh và đổi mới hoàn toàn hệ thống công nghệ, hệ thống công nghệ năng lượng quốc gia và ngành công nghiệp năng lượng quốc gia cũng như là bộ mặt của cả hệ thống năng lượng quốc gia.
Chắc chắn là Việt Nam bắt kịp thì chúng ta sẽ đẩy hệ thống này lên một trình độ mới: Một là sử dụng năng lượng tiết kiệm có hiệu quả, hai là chi phí tiết kiệm năng lượng sẽ thấp đi và thứ ba nữa là thị trường năng lượng mở rộng, thứ tư là khả năng để sinh lợi từ dòng tiền này rất lớn. Và tôi nghĩ đó là cơ hội để phát triển một loạt các ngành công nghiệp khác chẳng hạn như công nghiệp bán dẫn, công nghiệp chế tạo chính xác, công nghiệp cơ khí, công nghiệp luyện kim và gắn với đó là những cái công nghệ mà cao, công nghệ mà gọi là công nghệ đời mới, công nghệ hạt nhân, công nghệ sinh học, công nghệ liên quan đến siêu trí tuệ nhân tạo.
Tất cả những cái đó sẽ là tiền đề, là một trong những điểm khởi đầu để chúng ta không còn lo là thiếu điện nữa, không còn thiếu năng lượng sạch nữa mà chắc chắn là chúng ta sẽ có môi trường rất tốt.
Tóm lại theo tôi, cơ hội chúng ta ở đây là cơ hội về vốn, cơ hội về thu hút công nghệ, cơ hội về sự phát triển của một nền kinh tế xanh, kinh tế sạch, kinh tế bền vững và đặc biệt là chúng ta sẽ giảm thiểu được tình trạng gọi là phát thải ròng và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không. Gắn với đó là chúng ta sẽ xây dựng được một ngành năng lượng Việt Nam chưa từng có trong lịch sử, nghĩa là một là nó hiện đại, hai là tinh giản, ba là hiệu quả, bốn là nó phù hợp với xu hướng của thời đại.
(Còn nữa)
Bình luận