Thuốc, vắc xin thú y: Nghiên cứu khoa học công nghệ là nền tảng, động lực phát triển
Lĩnh vực sản xuất vật tư thuốc và vắc xin thú y đang có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Hơn 2.400 sản phẩm thuốc, vaccine thú y của Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 50 quốc gia, đạt giá trị xấp xỉ 50 triệu USD mỗi năm. tuy nhiên hoạt động sản xuất thuốc, vắc xin thú y cũng gặp không ít khó khăn.

Hiện nay hoạt động sản xuất thuốc, vắc xin thú y cũng gặp một số khó khăn, đặc biệt là trong vấn đề nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ. Vậy cần có giải pháp nào để tháo gỡ vấn đề này. Phóng viên Đài TNVN phỏng Tiến sỹ Nguyễn Thị Hương, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Thú y Việt Nam.

Phóng viên: Thưa bà, bà có đánh giá như thế nào về những thành quả từ  nghiên cứu, ứng dụng  khoa học trong lĩnh vực thú y?

Bà Nguyễn Thị Hương: Ngành chăn nuôi thú y nói chung và lĩnh vực thú y nói riêng những năm gần đây đã có rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Cái thanh tựu lớn nhất là các đơn vị trong ngành đã tập trung đầu tư khoa học và công nghệ để xây dựng các nhà máy sản xuất thuốc và vật xin thú y. Cho nên đến nay,  Việt Nam có hơn 100 nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP- WHO. Thậm chí có những nhà máy đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc là FBI-GMP. Với một khối lượng nhà máy như vậy thì Việt Nam có đủ năng lực để sản xuất các loài thuốc và vắc xin thú y đáp ứng cho nhu cầu phòng và chữa bệnh cho đàn vật nuôi kể cả trên cạn và dưới nước.

Trong những sự phát triển đó, sự đóng góp của khoa học công nghệ và nghiên cứu khoa học giữ một vai trò rất quan trọng kèm với những chính sách hợp lý của nó. Không chỉ là viện, là trường mà cả doanh nghiệp đều có đầu tư rất lớn cho công tác nghiên cứu khoa học về chọn giống, quy trình chăn nuôi, quy trình chăm sóc bệnh cũng như là đảm bảo an toàn cho đàn vật nuôi giúp cho chân nuôi phát triển một cách bên vững và có hiệu quả

Phóng viên: Theo bà hoạt động này còn gặp phải những khó khăn, thách thức như thế nào?

Bà Nguyễn Thị Hương: Hiện nay giữa những kết quả nghiên cứu từ các viện, các trường đưa cho các doanh nghiệp mà tổ chức sản xuất được đang gặp những trợ ngại khó khăn. Nhiều khi những thủ tục về thuế, về hành chính làm cho những nhà khoa học mất rất nhiều thời gian vào công tác hành chính mà lại không dành được nhiều thời gian cho công tác nghiên cứu. Trong lĩnh vực sản xuất thuốc và vắc xin thú y, cho đến bây giờ thì số các doanh nghiệp mà mạnh dàn đầu tư lập và xin cả dự án về nghiên cứu, đặc biệt là cả dự án cấp nhà nước, cấp bộ, thực chất là cả doanh nghiệp chưa mạnh dạn. Phải khẳng định một điều rằng là vật xin thú ý được các doanh nghiệp trong nước sản xuất nhưng thực chất chưa được tin dùng. Bởi vì cái nguyên nhân, thứ nhất vẫn có cái tư tượng là sính ngoại. Các cái cơ sở sản xuất lớn chủ yếu là sử dụng vắc xin, ngoại còn vắc xin nội sản xuất trong nước dù chất lượng rất là tốt đã được xuất khẩu hiệp nước nọ đến nước kia nhưng mà để vào được một cái trang trại ở Việt Nam là cực kỳ khó khăn.Chúng ta cần phải có một cái giải pháp đồng bộ nó phù hợp với cái thông lệ quốc tế để vắc xin của Việt Nam được tin dùng ngay trên đất nước của mình và đặc biệt là cũng có cái cơ hội để xuất khẩu ra các nước trên thế giới.

Phóng viên: Xin bà cho biết, một số kiến nghị và giải pháp để thúc đẩy việc phát triển nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất vắc xin, thuốc thú y?

Bà Nguyễn Thị Hương: Nghị quyết 57/2025 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đã mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu. Tuy nhiên, để các chủ trương này thực sự đi vào cuộc sống, thời gian tới cần sớm ban hành các thông tư, nghị định hướng dẫn cụ thể. Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, cũng như các viện nghiên cứu, trường đại học mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn khoa học công nghệ. Một vấn đề quan trọng khác là rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến ứng dụng, để các sản phẩm khoa học, đặc biệt là vắc xin và thuốc thú y, sớm được đưa vào sản xuất và sử dụng trong thực tiễn. Đồng thời, cần có chính sách tạo điều kiện để vắc xin sản xuất trong nước tham gia sâu hơn vào các chương trình phòng chống dịch bệnh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, qua đó từng bước khẳng định vị thế và năng lực của ngành sản xuất vắc xin nội địa. Ngoài ra, cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đặc biệt là các phòng thí nghiệm đạt chuẩn, hệ thống kiểm định, thử nghiệm lâm sàng trong thú y, nhằm nâng cao chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm. Việc thúc đẩy hợp tác công – tư, liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu cũng rất quan trọng để chia sẻ nguồn lực, dữ liệu và kinh nghiệm. Cùng với đó, cần có chính sách hỗ trợ về thuế, tín dụng và quỹ đổi mới sáng tạo để giảm rủi ro cho doanh nghiệp khi đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu vắc xin, thuốc thú y – vốn đòi hỏi chi phí cao và thời gian dài. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nghiên cứu, quản lý và sản xuất cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Cuối cùng, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua đào tạo chuyên sâu, thu hút chuyên gia giỏi và tăng cường hợp tác quốc tế, qua đó tiếp cận nhanh hơn với công nghệ tiên tiến và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.

Một giải pháp quan trọng khác là đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký, kiểm nghiệm và cấp phép lưu hành vắc xin, thuốc thú y theo hướng minh bạch, rút gọn nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ, an toàn. Điều này sẽ giúp sản phẩm mới nhanh chóng tiếp cận thị trường.

Ngoài ra, cần tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về việc sử dụng vắc xin, thuốc thú y sản xuất trong nước, qua đó tạo đầu ra ổn định cho doanh nghiệp. Song song với đó là việc kiểm soát chặt chẽ thị trường, ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng để bảo vệ uy tín của sản phẩm nội địa.

Phóng viên: Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi!

Tuấn Phong

 

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận