Diễn đàn quy tụ hơn 150 đại biểu, 76 báo cáo khoa học đến từ 18 quốc gia vào ba nhóm nội dung: chọn giống và công nghệ sinh học; lâm sinh và quản lý bền vững; sản phẩm, chuỗi giá trị và thị trường.
Phát biểu tại diễn đàn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cho biết: Sau hơn ba thập kỷ phát triển, lâm nghiệp Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, rừng trồng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu và tạo sinh kế cho người dân.Cây keo chiếm vị trí đặc biệt với khoảng 2,5 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích rừng trồng sản xuất của Việt Nam, đồng thời là nguồn nguyên liệu chủ lực của ngành chế biến gỗ. Cây keo cũng gắn với sinh kế của khoảng 1,5 triệu hộ gia đình, phần lớn là các hộ có quy mô rừng nhỏ. Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh: "Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành nền tảng để nâng cao giá trị rừng trồng keo". Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục ưu tiên nghiên cứu, chọn tạo và đưa vào sản xuất các giống có năng suất, chất lượng gỗ và khả năng chống chịu tốt; hoàn thiện quy trình trồng, chăm sóc và chuyển hóa rừng sản xuất gỗ lớn.Cùng với đó là đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nhất là cho các chủ rừng nhỏ; nâng cao năng lực quản lý, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ quy định về gỗ hợp pháp; phát triển chứng chỉ quản lý rừng bền vững và tăng cường liên kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến'.
Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam cho rằng: "Chúng ta cần phải xanh hóa hệ sinh thái cây keo Việt Nam. Trong đó, không thành phần nào có thể đứng riêng lẻ hết. Nhà khoa học cần hiểu nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần đầu tư nhiều hơn vào R&D, hiệp hội cần làm tốt vai trò kết nối và dẫn dắt, kiểm soát, nhà thiết kế cần hiểu và sáng tạo với vật liệu Việt Nam, người trồng rừng phải được chia sẻ nhiều hơn về giá trị của toàn chuỗi. Các ngân hàng, quỹ đầu tư cần xây dựng những sản phẩm tài chính phù hợp với ngành lâm nghiệp và nhà nước có vai trò kiến tạo rất quan trọng từ giống, đất đai, trồng và giữ rừng đến tín dụng, thuế, bảo hiểm, tiêu chuẩn, chứng chỉ và truy xuất nguồn gốc.
Theo các chuyên gia Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh rừng keo từ những năm 1990. Việc chọn lọc và đưa keo lai vào sản xuất đã tạo bước phát triển mới. Hiện nay, khoảng 80% sản lượng gỗ keo hiện được sử dụng để sản xuất dăm gỗ và viên nén. Trong khi đó, tỷ lệ gỗ lớn phục vụ sản xuất đồ mộc, sản phẩm chế biến sâu và các phân khúc giá trị cao còn hạn chế. Từ góc độ nghiên cứu, ông Trần Lâm Đồng, Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cho biết, rừng keo đang đối mặt với nhiều thách thức như sâu bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái đất và rủi ro thiên tai. Do vậy, viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, xác định các hướng ưu tiên nghiên cứu trong thời gian tới gồm: chọn tạo giống kháng bệnh, chịu hạn và gió bão; đa dạng hóa loài cây phù hợp từng vùng sinh thái; hoàn thiện kỹ thuật lâm sinh và thâm canh rừng gỗ lớn; phát triển giải pháp phòng trừ sâu bệnh bằng sinh học; nghiên cứu công nghệ chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và kéo dài chuỗi giá trị; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng sản xuất bền vững.
Phát biểu tại sự kiện, ông Ni-cô-lát Hô-gát (Nicholas Hogarth), Giám đốc Chương trình Lâm nghiệp của Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Ốt xtrây-lia bày tỏ ấn tượng sau chuyến thăm thực địa tại tỉnh Tuyên Quang trong khuôn khổ hội thảo. Theo ông Ni-cô-lát Hô-gát, ngành trồng rừng nguyên liệu và sản xuất gỗ của Việt Nam đã có bước phát triển rất nhanh và hiệu quả trong nhiều năm qua. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người trồng rừng tiếp tục phối hợp trong nghiên cứu, đổi mới công nghệ, xây dựng cơ chế tài chính và phát triển thị trường, qua đó nâng giá trị của cây keo và củng cố nền tảng cho ngành gỗ Việt Nam.
Tại diễn đàn, nhiều đại biểu cho rằng, trong thời gian tới ngành lâm nghiệp Việt Nam cần có các nhóm ưu tiên nghiên cứu đến năm 2035 gồm chọn giống đa tính trạng, có khả năng chống chịu; phân hóa tính trạng rừng theo điều kiện lập địa và rủi ro; nâng cao sức khỏe rừng và an toàn sinh học; phát triển chế biến sâu, vật liệu mới và kinh tế tuần hoàn; các vấn đề khác về kinh tế, chính sách, tín chỉ carbon.
Bình luận