Ở xã Thành Công, tỉnh Cao Bằng, nghề làm miến dong đã gắn bó với nhiều thế hệ, người sau nối tiếp người trước vẫn là những thao tác cũ: rửa củ dong, sát lấy bột, để lắng, thay nước, gạn sạn, khoắng bột, tráng, rồi đem từng phên miến ra phơi dưới nắng.
Đứng trong một gian bếp nhuốm màu thời gian nhưng sạch sẽ, nhìn bàn tay người làm nghề nghiêng từng thùng to, gạt bỏ lớp nước đục đi để giữ lại phần bột trắng ngần ở dưới, mới hiểu vì sao một sợi miến dong muốn trong, muốn dai, muốn không nát, đều bắt đầu từ sự tỉ mẩn của người làm, không thể qua loa.
Chị Trương Thị Nhung, hộ làm miến ở xóm Phù Vài, xã Thành Công chia sẻ: làm miến bây giờ không chỉ là giữ nghề, mà là giữ chất lượng trong một thị trường ngày một khó tính hơn.
Ở xã Thành Công, cây dong riềng đã thành sản phẩm chủ lực. Trung bình mỗi năm, toàn xã có trên 110 héc-ta dong riềng; 35 hộ tập trung làm miến ở các xóm Phia Đén, Pù Vài, Bản Phường. Năm 2023, miến dong Phia Đén được công nhận nghề truyền thống và làng nghề truyền thống. Trong làng nghề hiện đã có 6 trên 29 hộ đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Nhưng “nút thắt” của kinh tế nông nghiệp lại nằm ngay trong việc phát triển sản phẩm thế mạnh bản địa. Sản phẩm ngon, có tiếng, khách tìm đến, nhưng sản xuất còn nhỏ lẻ. Nhiều hộ vẫn chủ yếu tự bán qua Facebook, Zalo, qua chợ phiên, qua khách quen. Chất lượng và uy tín sản phẩm đã được khẳng định, nhưng quy mô và sự liên kết vẫn chưa theo kịp.
Theo ông Hoàng Thanh Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thành Công, tỉnh Cao Bằng, “câu chuyện sản phẩm” của miếng dong Phia Đén là khí hậu lạnh làm tinh bột dong dai hơn; là nguồn nước, là sân phơi dưới nắng, là sự kỹ tính ở khâu bột, là chợ phiên kéo người đi xa đến gần hơn với món ăn vùng cao. Nhưng để những điều ấy thành giá trị gia tăng thực sự, người dân ở đây đang cần thêm vốn, kỹ thuật, bao tiêu, và trên hết là một cách tổ chức sản xuất bền vững hơn.
Rời xã Thành Công, những câu chuyện về hành trình phát triển các sản phẩm đặc hữu lại tiếp tục trên những sườn đồi dẻ Trùng Khánh. Ở xã Trùng Khánh, cây dẻ đã gắn bó với người nông dân được hàng chục năm. Có nhà trồng từ đầu những năm 1990. Có vườn giữ những cây dẻ đầu dòng mấy chục năm tuổi. Có người sau khi nghỉ hưu mới quay về với vườn dẻ, học cách cắt tỉa, giữ giống, bắt sâu, trừ tầm gửi, tính lại mật độ cây, để một loại quả từng được trồng theo cách khá tự nhiên bắt đầu bước sang cách làm hàng hóa bài bản hơn. Ông Hoàng Văn Đồng, người trồng dẻ ở xóm 8, xã Trùng Khánh, nói về thương hiệu hạt dẻ Trùng Khánh bằng giọng chậm rãi của người gắn bó cả đời với đất. Ông hiểu giá trị của quả dẻ, nhưng cũng hiểu những khó khăn của sản phẩm khi bước ra thị trường.
Ông Hoàng Văn Tiến, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trùng Khánh cho biết: Phát triển sản phẩm đặc hữu tại Trùng Khánh cũng đang đối diện rất rõ ba nút thắt. Một là đất đai manh mún, khó hình thành vùng sản xuất lớn. Hai là sản lượng hạt dẻ thật còn ít, trong khi nhu cầu thị trường cao, tạo ra khoảng trống cho hàng trà trộn. Và ba là chuỗi liên kết từ sản xuất, đóng gói, bao bì, truy xuất nguồn gốc đến tiêu thụ vẫn còn mỏng.
Trong một tương lai không xa, khách du lịch đi qua có thể ghé vào vườn, hái dẻ, nhặt dẻ, nghe kể chuyện cây đầu dòng, chuyện giống bản địa, chuyện vì sao hạt dẻ nơi đây thơm và bùi hơn. Khi đó, giá trị của cây dẻ không chỉ nằm gọn trong chuyện bán quả tươi, mà còn đến từ những tour du lịch nông thôn, trải nghiệm, và trở thành sản vật nhận diện của cả một vùng đất.
Một số nội dung đáng chú ý khác trong chương trình Mùa vàng (ngày 07/04/2026):
- Nông dân, doanh nghiệp gồng mình xoay xở trước áp lực chi phí gia tăng
- Thái Nguyên: Đưa công nghệ số lên nương chè
- Tìm hiểu về lối hát ống, hát ví ở vùng thôn quê Bắc Ninh
Bình luận