1- Phóng viên: Thưa ông! Đến nay chương trình OCOP trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đem lại những kết quả cụ thể ra sao?
Ông Nguyễn Xuân Tùng trả lời: Chương trình OCOP đã đem lại những kết quả tích cực đối với các chủ thể, cụ thể. Chương trình OCOP đã Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần hợp tác của các chủ thể và cộng đồng để phát triển sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường, gắn với mục tiêu tạo việc làm, nâng cao thu nhập, bảo tồn cảnh quan, văn hóa truyền thống, đặc biệt ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc. Nhận thức, tư duy và năng lực của chủ thể OCOP, đặc biệt là các HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được nâng cao về tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng. Từng bước chuyển đổi sản xuất quy mô nhỏ sang sản xuất liên kết chuỗi giá trị khép kín, gắn với vai trò của các HTX, doanh nghiệp...
Sản xuất các sản phẩm OCOP ngày càng đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm; có mẫu mã, bao bì đa dạng và thân thiện với môi trường, phù hợp yêu cầu của thị trường... Hình thành nhiều SPOCOP gắn với vai trò như một “đại sứ” chuyển tải những câu chuyện sản phẩm mang tính nhân văn của vùng, miền. Như gần đây nhất khu vực Tân Cương có sản phẩm du lịch bản làng Thái Hải đạt 5 sao cũng đã truyển tải được nét văn hóa người Tày trên địa bàn.
2- Phóng viên: Thưa ông! Trên cơ sở kết quả đạt được, Thái Nguyên đã đề ra định hướng trong phát triển sản phẩm OCOP ở địa phương trong giai đoạn tới là gì ?
Ông Nguyễn Xuân Tùng trả lời: Giai đoạn 2026-2030, tỉnh Thái Nguyên định hướng đẩy mạnh, nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP gắn với vùng nguyên liệu tập chung, đạt chuẩn. Phát triển các sản phẩm OCOP xanh theo hướng kinh tế tuần hoàn gắn với thị trường xuất khẩu; Chú trọng phát triển sản phẩm OCOP gắn với phát triển du lịch nông thôn. Mở rộng hệ thống xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP. Mục tiêu cụ thể:
Về sản phẩm: Phấn đấu ít nhất toàn tỉnh có ít nhất 150 sản phẩm OCOP sản phẩm mới được công nhận đạt từ 03 sao trở lên; Củng cố và nâng cấp ít nhất 55% sản phẩm OCOP đã được đánh giá và phân hạng; Củng cố, nâng cấp các sản phẩm OCOP đã đạt 05 sao và phát triển mới ít nhất 5 sản phẩm đạt 05 sao OCOP quốc gia.
Về chủ thể: Ưu tiên phát triển các HTX, doanh nghiệp nhỏ và vừa, phấn đấu có từ 90% trở lên chủ thể OCOP là hợp tác xã và doanh nghiệp; ít nhất 40% chủ thể OCOP là nữ, ít nhất 25% chủ thể OCOP là người dân tộc thiểu số.
3- Phóng viên: Nói đến Thái Nguyên nhiều người nhớ ngay đến sản phẩm chè và đây cũng là sản phẩm chủ lực của Thái Nguyên trong Chương trình OCOP. Với mục tiêu đạt doanh thu 1 tỷ đô la vào năm 2030, vậy Thái Nguyên đã và đang có giải pháp nào để đạt được mục tiêu này?
Ông Nguyễn Xuân Tùng trả lời: Giải pháp góp phần đưa ngành chè Thái Nguyên đạt doanh thu 1 tỷ đô la. Triển khai có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển ngành chè tại Nghị quyết số 08/2025/NQ-HĐND ngày 30/7/2025 của HĐND tỉnh: Hỗ trợ phát triển 10.000–15.000 ha chè an toàn/hữu cơ an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc; Hỗ trợ máy móc chế biến công nghệ cao, giảm thủ công, nâng chất lượng chè xanh, matcha, sencha, trà thảo dược; Hỗ trợ xây dựng nhà máy chế biến sâu, phát triển sản phẩm mới từ chè: đồ uống, trà hòa tan, mỹ phẩm từ chè; Hỗ trợ quảng bá thương hiệu “Chè Thái Nguyên – Đệ nhất danh trà Việt Nam” và thúc đẩy xuất khẩu; Phát triển du lịch trải nghiệm làng nghề chè, gắn OCOP với du lịch cộng đồng. Quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế: Quy hoạch lại vùng chè theo hướng tập trung – chuyên canh – hữu cơ – VietGAP – GlobalGAP. Tổ chức lại sản xuất theo mô hình HTX – doanh nghiệp – người dân gắn vùng nguyên liệu với nhà máy.
Xây dựng và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên mang tầm quốc tế: Chuẩn hóa nhận diện thương hiệu vùng “Thai Nguyen Tea” gắn với chỉ dẫn địa lý. Xây dựng câu chuyện thương hiệu (storytelling) về: truyền thống, vùng đất, kỹ thuật sao chè thủ công. Đầu tư truyền thông mạnh mẽ: hội chợ quốc tế, kênh số, influencer quốc tế về trà, du lịch trà. Tạo các thương hiệu mạnh cấp doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc, Sri Lanka, Ấn Độ. Đẩy mạnh xuất khẩu và mở thị trường chiến lược: Tập trung vào các thị trường có giá trị cao: Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Đông. Chuẩn hóa hồ sơ xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu về dư lượng, tiêu chuẩn hữu cơ, truy xuất nguồn gốc. Thành lập Trung tâm xúc tiến chè Thái Nguyên quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp ký hợp đồng dài hạn.
Phát triển du lịch chè: Xây dựng các vùng du lịch sinh thái – trải nghiệm chè tại Tân Cương, La Bằng, Trại Cài. Phát triển các sản phẩm: tour “con đường chè xanh”, lễ hội trà quốc tế, trải nghiệm sao chè, homestay làng chè. Kết hợp OCOP với du lịch nhằm tăng giá trị thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm tại điểm đến. Đây là hướng giúp tăng mạnh doanh thu dịch vụ, đóng góp gián tiếp vào mục tiêu 1 tỷ USD. Ưu đãi tín dụng cho vùng nguyên liệu, công nghệ cao, chế biến sâu. Hỗ trợ chi phí chứng nhận hữu cơ, tiêu chuẩn quốc tế, bao bì, nhãn mác, thử nghiệm chất lượng. Chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tàu vào đầu tư sản xuất, xuất khẩu quy mô lớn.
Phóng viên: Vâng xin cảm ơn ông!
Bình luận