Hiện tại, cả nước có hơn 800 doanh nghiệp có vốn nhà nước. Trong đó, về tỷ lệ góp vốn, có hơn 500 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hơn 200 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ trên 50% đến dưới 100% vốn, còn lại là các doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước thấp hơn. Có thể thấy, tỷ lệ doanh nghiệp có vốn Nhà nước dưới 100% còn ít, tức là phương thức đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp còn chưa linh hoạt.
Tại Luật số 68/2025, đã quy định 5 hình thức đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, gồm: thành lập mới doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước; bổ sung vốn tại công ty có vốn nhà nước; góp vốn thành lập doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế khác; và góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp chưa có vốn nhà nước. Bà Nguyễn Thu Thuỷ, Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính cho biết:
"Về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, thì hình thức góp vốn thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, là một quy định mới của luật lần này để phòng cho những trường hợp nhà nước bỏ vốn vào lần đầu tiên nhưng không phải là thành lập doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, mà là nhà nước cũng đi góp vốn với các thành phần kinh tế khác để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Hình thức này là hình thức mới".
Luật số 68 cũng phân định rõ thẩm quyền quyết định đầu tư vốn. Theo đó, Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước với quy mô trên 30.000 tỷ đồng, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đối với khoản bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế được để lại từ 5.000 tỷ đến 30.000 tỷ đồng, trong khi cơ quan đại diện chủ sở hữu và doanh nghiệp được phân cấp mạnh hơn trong các trường hợp còn lại.
Cùng với việc tăng phân cấp, phân quyền theo Luật số 68 và Nghị định số 366 về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, thì Nghị định số 365 cũng quy định mới về giám sát, kiểm tra, đánh giá, xếp loại, báo cáo và công khai thông tin trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Ông Nguyễn Hoàng, Trưởng phòng Nghiệp vụ 2, Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, nhấn mạnh:
"Trong Nghị định quy định rõ nội dung giám sát kiểm tra đối với doanh nghiệp, với người đại diện. Nội dung đầu tiên là giám sát kiểm tra việc đầu tư bổ sung vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, là nội dung xuyên suốt và rất quan trọng. Đã phân cấp phân quyền mạnh thì tăng cường giám sát của chủ sở hữu chính là công tác quản lý vốn này. Trước đây giám sát kiểm tra theo quy trình thì đúng quy trình là được. Nhưng Luật 68 là quản lý theo kết quả, kết quả cuối cùng là đánh giá hoàn thành nhiệm vụ được giao, hiệu quả quản lý sử dụng vốn. Hôm nay tốt rồi, mai phải làm tốt hơn, thì tạo không gian cho cơ quan chủ sở hữu và người đại diện thể hiện năng lực quản lý của mình".
Mới đây, Chính phủ tiếp tục có Nghị định số 57/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tiếp tục cụ thể hóa một số hướng dẫn thi hành Luật số 68. Đặc biệt, đối với việc cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, quy định mới tại Nghị định số 57 đã tháo gỡ nhiều vướng mắc liên quan đến vấn đề đất đai – vốn là "nút thắt" lớn nhất trong giai đoạn trước. Ông Trần Hải An, Trưởng phòng Sắp xếp và Đổi mới doanh nghiệp nhà nước, Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước nêu việc xử lý đất đai và tài sản khi chuyển đổi sở hữu:
"Cổ phần hóa theo Nghị định 57 không còn quy định doanh nghiệp phải lập phương án sử dụng đất. Pháp luật về quản lý tài sản công cũng đã bỏ quy định là doanh nghiệp phải thực hiện sắp xếp, xử lý nhà đất. Với Nghị định này, ngoài nội dung doanh nghiệp không phải thực hiện sắp xếp, xử lỷ nhà đất, thì cũng không phải thực hiện việc xây dựng, lập, và phê duyệt phương án sử dụng đất. Theo đó, doanh nghiệp khi cổ phần hóa chỉ lập bản kê hiện trạng sử dụng đất, các cơ sở nhà đất đang sử dụng, gồm các thông tin như: danh mục, diện tích, mục đích sử dụng hiện tại, hình thức giao đất hay thuê đất, thời hạn thuế và trả tiền như thế nào…".
Nghị định số 57 nêu rõ nguyên tắc là cổ phần hóa không gắn với chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần sẽ tiếp tục quản lý, sử dụng đất theo hình thức cũ. Nếu có nhu cầu thay đổi mục đích sử dụng đất sau này, doanh nghiệp phải thực hiện theo đúng quy trình của pháp luật về đất đai. Điều này giúp tách bạch quá trình cổ phần hóa với các dự án bất động sản, tránh thất thoát tài sản nhà nước.
Có thể nói, việc ban hành Luật số 68/2025 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, là bước cụ thể hóa các định hướng lớn của Đảng về phát triển kinh tế nhà nước. Luật và các nghị định được xây dựng theo cách tiếp cận mới, phân công rõ, phân cấp mạnh trong việc quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp. Đồng thời, đã tách bạch và phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước và với hoạt động quản trị của doanh nghiệp, từ đó tăng tính chủ động trong các quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Cùng với đó, đã có các quy định cụ thể cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát và đánh giá của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước, để vừa tăng tính công khai, minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp, vừa đảm bảo tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm giải trình. Theo đó, các quy định mới tại Luật số 68 và các Nghị định hướng dẫn thi hành, được kỳ vọng góp phần khơi thông nguồn lực đầu tư và phát triển của doanh nghiệp Nhà nước, để khu vực kinh tế này nêu cao vai trò chủ đạo phát triển các lĩnh vực then chốt, công nghệ cao và hạ tầng chiến lược, có sức dẫn dắt lan tỏa cùng phát triển các thành phần kinh tế khác./.
Trung Hiếu - VOV1.
Bình luận