Bài 3: ĐBSCL với trọng trách an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
VOV1 - Vùng ĐBSCL cũng đang đứng trước thách của biến đổi khí hậu, sự biến động của thị trường khi chiến lược xuất khẩu chưa bền vững.

Cùng với đó, một số mặt hàng nông sản chưa đáp ứng được những yêu cầu của thị trường do sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún. Trong phần cuối của loạt bài chúng tôi sẽ làm rõ các vấn đề đặt ra để nông nghiệp ĐBSCL thực sự là bệ đỡ, là điểm tựa vững chắc. Trong đó, điểm nhấn là phải có chiến lược rõ ràng, xây dựng thương hiệu hàng hóa chất lượng cao.

Nông sản vùng ĐBSCL đã thẳng tiến vào các thị trường Hoa Kỳ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, EU, Trung Quốc cùng một số nước châu Phi. Tuy nhiên trên thực tế quy mô sản xuất chủ yếu manh mún, nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết với doanh nghiệp, điều này đã ảnh hưởng tới xây dựng thương hiệu của nông sản Việt Nam trong xuất khẩu. Chính vì vậy, liên kết hợp tác giữa người dân và HTX, doanh nghiệp được xem là bài toán then chốt để khẳng định nông sản của vùng.

Với diện tích canh tác hơn 320 hecta cùng 40 hộ dân tham gia, HTX Khiết Tâm, huyện Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ đang áp dụng quy trình canh tác lúa theo hướng bền vững, giảm 50% lượng giống gieo sạ, 30% phân bón, 30% thuốc bảo vệ thực vật và giảm 50% lượng nước tưới. Ông Nguyễn Ngọc Huấn, Giám đốc HTX cho biết, hiệu quả từ mô hình rất rõ: Ngày xưa khi làm theo tập quán cũ thì phải ra đồng rất là nhiều, bởi vì làm cỏ, tất cả sạ dày chúng tôi phải đi thăm đồng thường xuyên. Nhưng từ khi sạ thưa không phải ra đồng thường xuyên thì chúng tôi ở nhà làm những công việc khác, tăng thu nhập cho gia đình.

Vùng ĐBSCL có hơn 2.700 HTX nông nghiệp, hiện nay Bộ NN&MT đang tập trung nâng cao năng lực cho 620 HTX nông nghiệp phát triển liên kết chuỗi giá trị và gần 200.000 hộ dân trong thực hiện Đề án 1 triệu ha. Cùng với đó, tập huấn về quy trình canh tác bền vững, giảm phát thải, xử lý phụ phẩm theo hướng kinh tế tuần hoàn, kết nối thị trường, sản xuất kinh doanh lúa gạo gắn với tăng trưởng xanh.

Theo TS Trần Minh Hải, Phó Chủ tịch hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam, hiện nay có khoảng 52% các HTX ở vùng ĐBSCL đạt tốt và khá. Tuy nhiên số lượng thành viên HTX vẫn ít, điều này đã ảnh hưởng đến hoạt động và nguồn lực của HTX trong liên kết, hợp tác với doanh nghiệp: Phải có được những hợp tác xã đủ mạnh, đủ bản lĩnh để tổ chức dịch vụ mua chung, bán chung và dịch vụ tổ chức sản xuất. Hợp tác xã làm đại diện để liên kết với doanh nghiệp thì một trong những tiêu chí của đề án ở đây là phải là 100 % các hợp tác xã trong diện tích này là liên kết với doanh nghiệp.

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng đến toàn cầu cũng như ĐBSCL đang đứng trước những tác động như: Mực nước biển dâng, mặn xâm nhập, hạn hán, lũ lụt, triều cường, bồi lắng cửa sông…Trước hiện trạng này, nhiều giải pháp đã được ban hành; từ sách lược của Đảng, Nhà nước với Nghị quyết số 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đến những nghiên cứu chuyên gia, nhà khoa học, hỗ trợ của các đối tác quốc tế, sự hợp tác của doanh nghiệp, sự chủ động người dân. Từ đó, biến thách thức thành cơ hội, thay đổi tư duy sản xuất, đưa ĐBSCL ngày càng phát triển bền vững.

Ông Nguyễn Ngọc Hè, Phó Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ cho biết, trong triển khai Đề án 1 triệu hecta, Cần Thơ dự kiến đầu tư tầng kỹ thuật, thủy lợi với khoảng 34 triệu USD, tương đương hơn 800 tỷ đồng. Hiện nay, thành phố tăng cường đầu tư hệ thống thủy lợi, đảm bảo nguồn nước, đáp ứng yêu cầu trong canh tác: Chúng tôi cho rằng hệ thống thủy lợi tốt thì chúng ta chủ động được nguồn nước và chúng ta kiểm soát tốt lượng nước ở trên diện tích mà tham gia đề án.

Trong nhiều nhóm ngành hàng của Việt Nam xuất khẩu hơn 1 tỷ USD thì phần lớn đến từ vùng ĐBSCL với các mặt hàng lúa gạo, trái cây, thủy sản. Tuy có nhiều thế mạnh về xuất khẩu nhưng vùng vẫn được nhìn nhận phát triển chưa tương xứng tiềm năng, thế mạnh.

Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Trần Thanh Nam, để vùng ĐBSCL phát triển bền vững giải pháp quan trọng là liên kết. Nếu liên kết bền vững sẽ giúp nông sản ổn định đầu ra, doanh nghiệp an tâm về vùng nguyên liệu để phát triển bền vững: Các cơ chế trọng tâm đã gần như là đã hoàn thành. Đó là các dự án hỗ trợ đầu tư hạ tầng từ các nguồn vốn Ngân hàng thế giới và nguồn vốn trong nước thì cơ chế đã gần như là hoàn tất. Thứ hai nữa là các cơ chế tín dụng thì cũng đã được thống nhất. Chúng tôi đã xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng để triển khai đến các địa phương.

Nông sản vùng ĐBSCL đã tham gia vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu, khi tận dụng tốt các hiệp định FTA mà Việt Nam đã đàm phán và ký kết thương mại với đối tác. Tuy nhiên, việc triển khai, xúc tiến thương mại vẫn đang thiếu đồng bộ, nhiều doanh nghiệp còn thụ động trong xúc tiến thương mại, điều này đã ảnh hưởng đến nắm bắt thị trường, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, khả năng tiếp cận xuất khẩu.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương cho biết, trong thời gian tới các doanh nghiệp cần tiếp tục xúc tiến thương mại ở các thị trường như trọng điểm như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia, Pháp, Nam Phi, Trung Quốc. Cùng với đó, thay đổi phương thức xúc tiến trên môi trường số nhằm quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị cho hàng xuất khẩu: Từ chương trình 1 triệu hecta lúa gạo phát thải thấp chúng ta có thể nghiên cứu tính toán đến việc là xây dựng những thương hiệu của những nhóm ngành, sản phẩm khác dừa, tôm, cá. Và có thể tính đến chuyện là đề xuất là xây dựng cơ chế hợp tác trong xúc tiến xuất khẩu của vùng và đề xuất xây dựng thương hiệu cho một nhóm hay là một vài nhóm ngành hàng nào đấy của vùng.

Vùng ĐBSCL là vựa lúa, vựa trái cây, vựa thủy sản quan trọng của Việt Nam; giữ vai trò to lớn về môi trường sinh thái, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực quốc gia và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nửa thập kỷ qua, với sự nỗ lực không ngừng nghỉ, sự thay đổi tư duy của người dân, sự liên kết giữa các HTX, doanh nghiệp đã góp phần quan trọng trong phát triển nông nghiệp của vùng, đưa vùng ĐBSCL trở thành vùng đất trù phú, giàu tiềm năng phát triển về nông nghiệp, công nghiệp.

 Với sự quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông kết nối nội vùng, liên vùng và các cơ chế, chính sách vào tam nông đã giúp cho nông sản của vùng ĐBSCL cạnh tranh, khẳng định vai trò, vị thế nông nghiệp của Việt Nam trên thị trường thế giới. Từ đó, hình thành các mô hình chuyên canh lúa, cây ăn trái và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, giá trị mang lại cao, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

50 năm sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, người dân ĐBSCL từng bước chủ động vượt qua thách thức và phát triển một cách hài hòa, thuận thiên. Sản xuất nông nghiệp của cả vùng ngàng càng khẳng định vai trò, vị thế "trụ đỡ"; đồng thời đang đẩy nhanh quá trình thích ứng với xu thế thay đổi, xu hướng xanh hóa với toàn cầu./.

 

Xem trên các nền tảng khác

Bình luận