Bài 1: Hoàn thiện phương châm tiến hành công tác dân vận của Đảng
Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh vai trò quan trọng đặc biệt của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Phản bác các luận điệu xuyên tạc và nhận thức rõ ý nghĩa của thành tố “dân thụ hưởng” là cơ sở để không ngừng phát huy năng lực sáng tạo của các tầng lớp nhân dân.
Cảnh giác với những luận điệu sai trái, phản khoa học
Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên thành tố “dân thụ hưởng” đã được đưa vào phương châm tiến hành công tác dân vận của Đảng ta. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc “thực hiện có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (1). Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong hiện thực hóa thành tố “dân thụ hưởng”, đời sống mọi mặt của các tầng lớp nhân dân trên cả nước đã không ngừng được nâng lên. Song, với góc nhìn phiến diện và mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc thành tố “dân thụ hưởng” thông qua những luận điệu cho rằng đó chỉ là hình thức, là khẩu hiệu suông, là “chiêu trò” mị dân, lợi dụng dân để Đảng Cộng sản Việt Nam củng cố địa vị lãnh đạo của mình. Lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng ở một số khu vực và những khó khăn trong đời sống của một bộ phận nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chúng cho rằng “dân thụ hưởng” không có trên thực tế mà chỉ tồn tại trong công tác tuyên truyền của Đảng.
Bên cạnh đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Một số cán bộ, đảng viên trong đó có cán bộ cao cấp bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc bị truy tố, phải chịu trách nhiệm hình sự. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động đã đưa ra luận điệu cho rằng chỉ có cán bộ, đảng viên mới có cuộc sống sung sướng, mới được hưởng thụ thành quả đổi mới. Người dân lao động thì vất vả, nghèo khổ; quyền hành, lợi ích là của Đảng, đảng viên;… Từ đó chúng đi đến kết luận, “dân thụ hưởng” chỉ là khẩu hiệu do Đảng đưa ra nhằm “lừa bịp”, “mị dân”!
Không khó để nhận ra tính chất sai trái của những luận điệu nói trên. Những luận điệu đó được đưa ra hoàn toàn không phải trên cơ sở thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam mà là kết quả sự suy diễn, quy chụp thiếu khách quan. Không xuất phát từ việc bảo vệ quyền lợi, lợi ích của người dân như các thế lực thù địch, phản động rêu rao, những luận điệu đó trước hết xuất phát từ động cơ chính trị đen tối; thiếu thiện chí. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bỏ qua những thành tựu quan trọng, toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam đã và đang được thụ hưởng. Điều này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Bởi mục đích của họ khi đưa ra những luận điệu phiến diện nói trên không gì khác ngoài việc phủ nhận những nỗ lực và thành quả Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã đạt được sau 40 năm đổi mới. Sâu xa hơn, việc đưa ra những luận điệu sai trái, phản khoa học đó còn nhằm phá vỡ mối quan hệ đoàn kết máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xóa nhòa niềm tin của nhân dân đối với Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, nhận diện và đấu trang phản bác các luận điệu đó là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng hiện nay.
“Dân thụ hưởng”, bước phát triển tư duy lý luận quan trọng
Trước hết cần khẳng định, bổ sung thành tố “dân thụ hưởng” là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về công tác dân vận. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ, Đảng đã “phát triển nhận thức lý luận về công tác dân vận,… Mở rộng, phát triển phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” (2). Đây là sự vận dụng sáng tạo bài học truyền thống “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) được thể hiện rõ trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh vai trò quan trọng của nhân dân trong mỗi bước chuyển mình của dân tộc. Trong thời kỳ phong kiến, những triều đại thịnh trị là những triều đại thực sự quan tâm đến đời sống của nhân dân; vừa giữ gìn, bảo vệ bờ cõi, vừa chăm lo cuộc sống cho nhân dân. Đó là cách khơi dậy sức mạnh vô địch của toàn dân trong dựng nước và giữ nước. Như lời dạy của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn: “Thời bình, phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” (3); “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ” (4). Theo Bác, bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng đó là tôn trọng, đề cao vai trò, vị trí làm chủ của nhân dân. Nhân dân là chủ thể quan trọng, động lực quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Do vậy, mọi thành quả cách mạng đều phải hướng vào phục vụ đời sống của nhân dân, hướng đến đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của số đông quần chúng nhân dân.
Kế thừa truyền thống của dân tộc và vận dụng sáng tạo tư tưởng trên của Bác, ngay từ nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981 - 1986), Đảng ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng. Đặc biệt, trên cơ sở thực tiễn lãnh đạo cách mạng, nhất là lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng đã bổ sung các thành tố “dân giám sát”, “dân thụ hưởng” vào phương châm tiến hành công tác dân vận: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trong đó, việc bổ sung thành tố “dân thụ hưởng” vào phương châm tiến hành công tác dân vận đã phản ánh rõ hơn, sâu sắc hơn bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang nỗ lực xây dựng. Với thành tố “dân thụ hưởng”, Đảng đã thực sự đặt quyền lợi của người dân ở vị trí trung tâm mọi chủ trương, đường lối; mục đích cao nhất của công tác dân vận không gì khác chính là để người dân được thụ hưởng mọi thành quả của quá trình phát triển đất nước, tăng trưởng kinh tế. Nhân dân là chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của mọi chủ trương, chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải xuất phát từ nhân dân; phải thực sự hợp lòng dân, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Thực hiện tốt các vấn đề này cũng là “lời giải cho bài toán” giữa cống hiến và hưởng thụ; cơ sở để khơi dậy, phát huy sức mạnh của toàn dân nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Tiếp cận từ góc độ phát triển tư duy lý luận về công tác dân vận, nội dung cốt lõi của thành tố “dân thụ hưởng” đó chính là người dân đóng vai trò chủ thể, được hưởng mọi kết quả, thành tựu của sự phát triển. Ở đây, vấn đề “dân làm gốc”, trọng dân, tin dân đã được Đảng đặc biệt coi trọng. Mọi thành tựu của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước đều là của nhân dân; đều để nhân dân được thụ hưởng. Các chủ trương, đường lối của Đảng suy đến cùng đều nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Qua đó, tạo cơ sở toàn diện để triển khai đồng bộ các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội hướng vào nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Đồng thời, hiện thực hóa thành tố “dân thụ hưởng” cũng nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực trong đời sống của nhân dân. Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu chính đáng của nhân dân sẽ phát huy tốt năng lực sáng tạo của nhân dân; hiện thực hóa các kế hoạch, đề án phát triển địa phương và đất nước. Từ đó, tạo nên sự thống nhất giữa “ý Đảng với lòng dân”; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Đặt trong tổng thể phương châm tiến hành công tác dân vận “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thành tố “dân thụ hưởng” nhấn mạnh rõ quyền hưởng thụ của người dân đối với mọi thành quả của sự phát triển.
Cùng với đó, giá trị lý luận của thành tố “dân thụ hưởng” còn thể hiện rõ thông qua việc tạo cơ sở bảo đảm phát huy tốt vai trò của nhân dân với tư cách là động lực cho sự phát triển của đất nước. Cùng với “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát”, thành tố “dân thụ hưởng” khẳng định nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”; bảo đảm công bằng xã hội trên cơ sở “có làm có hưởng”, “có cống hiến, có hưởng thụ”. Cả lý luậnv à thực tiễn đều đã chứng minh, lợi ích là động lực của hành động. Chỉ khi lợi ích chính đáng được đáp ứng, chỉ khi có sự hài hòa giữa lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội, thì khi đó, nhân dân mới phát huy tốt vai trò là động lực chính cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, “dân thụ hưởng” không chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng ta đến đời sống của người dân, bảo đảm mọi người dân đều có quyền được thụ hưởng thành quả phát triển; mà còn là “lời giải” cho bài toán phát huy sức dân trong tình hình mới hiện nay. Mỗi người dân sẽ thực sự hắng hái đóng góp “trí lực, tâm lực, sức lực” cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khi họ được thụ hưởng những kết quả phát triển kinh tế-xã hội và được quan tâm, đáp ứng những nhu cầu hợp pháp, chính đáng.
Trung tá Nguyễn Thành Chung
Chính ủy Trung đoàn 68, Sư đoàn 312, Quân đoàn 12
Chú thích:
(1), (2). Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập I, tr, 52, 48.
(3) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 7, tr. 434.
(4). Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 13, tr. 83.
Bình luận