Hội thảo có sự tham gia của Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam, Bộ Điện tử và Công nghệ thông tin Ấn Độ, Bộ Ngoại giao Ấn Độ, các cơ quan nghiên cứu, các đại học và doanh nghiệp của hai quốc gia Việt Nam và Ấn Độ.
Hội thảo có sự tham gia, chủ trì của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hải Bình, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Ông Periasamy Kumaran, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ.
Hội thảo được tổ chức nhằm chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ, đồng thời hướng tới Hội nghị Thượng đỉnh về tác động của trí tuệ nhân tạo (AI Impact Summit) tại Ấn Độ. Đây là diễn đàn khoa học tập trung tổng kết thực tiễn quá trình chuyển đổi số tại hai quốc gia. Từ đó xây dựng hệ thống luận cứ khoa học sâu sắc về tiến trình chuyển đổi số nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững dựa trên khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên mới.
Phát biểu đề dẫn hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hải Bình, Ủy viên Trung ương Đảng Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: Trong thế kỷ XXI, chuyển đổi số đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một quá trình đổi mới công nghệ hay hiện đại hóa kỹ thuật. Ngày nay, chuyển đổi số đã trở thành trụ cột chiến lược của năng lực phát triển quốc gia, tác động sâu sắc đến mô hình tăng trưởng, phương thức quản trị nhà nước, cấu trúc xã hội, năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia trong trật tự kinh tế – chính trị toàn cầu đang tái cấu trúc nhanh chóng. Theo các nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, đến năm 2030, khoảng 70% giá trị gia tăng mới của nền kinh tế toàn cầu sẽ được tạo ra từ các nền tảng công nghệ số và dữ liệu. Trong bối cảnh đó, dữ liệu, hạ tầng số và các nền tảng công nghệ lõi đang nổi lên như những nguồn lực chiến lược mới, có ý nghĩa tương đương, thậm chí vượt trội, so với tài nguyên thiên nhiên trong các giai đoạn phát triển trước đây.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, quốc gia nào làm chủ được hạ tầng dữ liệu, nền tảng số và thể chế quản trị số, quốc gia đó sẽ nâng cao được quyền tự chủ chiến lược, tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc toàn cầu, đồng thời tạo lập lợi thế cạnh tranh dài hạn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đối với Việt Nam và Ấn Độ, hai quốc gia đang phát triển năng động, có quy mô dân số lớn, thị trường rộng mở và khát vọng vươn lên mạnh mẽ, chuyển đổi số không chỉ là lựa chọn, mà là con đường tất yếu và ngắn nhất để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển dài hạn. Nếu như Ấn Độ đang hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế 5.000 tỷ USD, thì Việt Nam kiên định mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong cả hai tầm nhìn chiến lược đó, chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng trung tâm và nền tảng của phát triển bền vững.
Thực tiễn chuyển đổi số của Ấn Độ cho thấy, chuyển đổi số chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng của tầm nhìn chiến lược dài hạn, thể chế quốc gia vững chắc và năng lực tổ chức thực thi mạnh mẽ. Thông qua sáng kiến “Digital India” được khởi xướng từ năm 2015, Ấn Độ đã xây dựng thành công một hệ sinh thái Hạ tầng số công cộng (DPI) có quy mô và mức độ bao phủ hàng đầu thế giới. Những thành tựu tiêu biểu có thể kể đến như: Hệ thống thanh toán tức thời UPI, với hơn 117 tỷ giao dịch trong năm 2023, trở thành hệ thống thanh toán số lớn nhất toàn cầu; Hệ thống định danh số Aadhaar, bao phủ trên 1,3 tỷ người dân, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, giảm thất thoát ngân sách và thúc đẩy bao trùm tài chính – xã hội; Ngành công nghệ thông tin và dịch vụ số, với doanh thu vượt 250 tỷ USD, khẳng định vai trò của Ấn Độ như một trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo toàn cầu. Kinh nghiệm của Ấn Độ cho thấy, chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa các dịch vụ công, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình quản trị quốc gia, dựa trên dữ liệu, nền tảng mở, và sự tham gia chủ động của khu vực tư nhân cũng như toàn xã hội.
Về phía Việt Nam, chuyển đổi số đã được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn mới. Theo các báo cáo quốc tế uy tín, Việt Nam hiện là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế số nhanh nhất Đông Nam Á, với mức tăng trưởng khoảng 20% mỗi năm. Năm 2023, kinh tế số đóng góp khoảng 16,5% GDP, và Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ trọng này lên 20% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Với hơn 78 triệu ngườisử dụng Internet, chiếm gần 80% dân số, Việt Nam đang sở hữu nền tảng xã hội - kỹ thuật quan trọng để triển khai Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số một cách đồng bộ. Những kết quả đó cho thấy, chuyển đổi số ở Việt Nam đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm, bước sang giai đoạn tăng tốc và đi vào chiều sâu, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hiện đại hóa năng lực quản trị quốc gia. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Hải Bình nhấn mạnh:
(Chuyển đổi số là một hành trình đầy cam go nhưng cũng chứa đựng những vận hội to lớn để cả Việt Nam và Ấn Độ hiện thực hóa khát vọng phát triển dân tộc. Qua nghiên cứu các nỗ lực và cơ hội của hai nước, chúng ta có thể khẳng định rằng hai nước chúng ta đang đứng trước một thời điểm vàng để thắt chặt hơn hơn nữa quan hệ hợp tác trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và đặc biệt là tập trung vào lĩnh vực công nghệ cao. Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ xuất phát từ nền tảng sự tin cậy chính trị và sự tương đồng trong lộ trình hiện đại hóa đất nước. Cả hai hiện nay đều đang coi công nghệ là công cụ để bảo vệ chủ quyền và phát triển kinh tế bền vững, đồng thời cũng đang cùng nhau để nỗ lực thoát khỏi sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng công nghệ nước ngoài).
Trong khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện, hợp tác chuyển đổi số giữa Việt Nam và Ấn Độ mang ý nghĩa kinh tế công nghệ, đồng thời có chiều sâu chính trị - chiến lược rõ nét.
Thứ nhất, về hạ tầng và dịch vụ số, Ấn Độ có thế mạnh vượt trội trong xuất khẩu dịch vụ phần mềm, trong khi Việt Nam là một trong những thị trường thương mại điện tử năng động nhất khu vực.
Thứ hai, về nguồn nhân lực số, Ấn Độ sở hữu lực lượng lao động CNTT quy mô lớn, là đối tác quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đào tạo nhân lực công nghệ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn.
Thứ ba, về an ninh mạng và chủ quyền số, việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chuyên trách của hai nước là yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia trong không gian số đang ngày càng phức tạp.
Thứ tư, về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, hai nước có tiềm năng lớn để hình thành các chuỗi giá trị công nghệ khu vực, đóng góp vào sự phát triển bền vững của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Phát biểu tạiu hội thảo, ông Periasamy Kumaran, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho biết:
(Các nhà lãnh đạo của chúng ta đã đưa ra tầm nhìn rằng: Quan hệ đối tác Ấn Độ Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải hướng tới tương lai và tầm nhìn xa, và không có gì nói đến tương lai rõ ràng hơn là chuyển đổi số. Vậy tương lai nào đang chờ đợi và hứa hẹn trong quan hệ đối tác Việt Nam Ấn Độ trong lĩnh vực chuyển đổi số? Chúng tôi đang duy trì các cơ chế đối thoại về công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ cũng như nhiều lĩnh vực khác để định hướng lại cho phù hợp với nhu cầu của thời đại. Ví dụ chúng ta cũng đang hợp tác trong lĩnh vực công nghệ tài chính và thanh toán kỹ thuật số. Ngân hàng trung ương của hai nước cũng đang phối hợp chặt chẽ về vấn đề này. Tôi rất vui mừng được thông báo rằng tại hội thảo lần này thì chúng tôi có sự tham gia của các đồng nghiệp từ Chính phủ Ấn Độ phụ trách về ngoại giao mạng, hay Phó giám đốc của Công ty thanh toán quốc tế PCI - công ty đang hợp tác với Việt Nam).
Hội thảo diễn ra với ba phiên tham luận chuyên sâu và ba phiên thảo luận tương ứng, tập trung vào các nhóm chủ đề trọng tâm như: (1) Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo- Từ tầm nhìn chiến lược đến thực tiễn hợp tác; (2) Hợp tác trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, hướng tới Hội nghị Thượng đỉnh tác động của trí tuệ nhân tạo; (3) Công nghệ thế hệ mới và tính bền vũng trong tiến trình chuyển đổi số. Đây là những nội dung mang tính then chốt, đóng vai trò hạt nhân trong chiến lược chuyển đổi số quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của kỷ nguyên mới.
Các đại biểu tập trung thảo luận vào bốn nhóm vấn đề trọng tâm như: Hoàn thiện thể chế và hành lang pháp lý cho chuyển đổi số, đặc biệt đối với các công nghệ mới và mô hình quản trị số tiên tiến. Thúc đẩy hợp tác chuyển giao công nghệ lõi, phát triển hạ tầng dữ liệu, chính phủ số và đô thị thông minh. Bảo đảm tính bao trùm của chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách số, lấy con người làm trung tâm phát triển. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, tăng cường kết nối giữa các chủ thể nhà nước - doanh nghiệp - giới học thuật của hai nước. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh sẽ tiếp thu nghiêm túc các ý kiến thảo luận, tổng hợp thành Báo cáo kiến nghị khoa học - chính sách, phục vụ công tác tham mưu cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Với sự hội tụ của trí tuệ, kinh nghiệm và tầm nhìn chiến lược của các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách và chuyên gia hai nước, tôi tin tưởng rằng Hội thảo hôm nay sẽ đóng góp thiết thực vào việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, đồng thời tạo ra những giá trị mới cho sự phát triển bền vững của hai quốc gia trong kỷ nguyên số.
Toàn văn kỷ yếu hội thảo sẽ được biên tập và xuất bản tiếng Việt (tại Việt Nam), và tiếng Anh (tại Ấn Độ) nhằm tài liệu hóa các luận cứ khoa học và tổng kết thực tiễn, phục vụ công tác tư vấn chính sách phát triển bền vững, góp phần thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ trong chuyển đổi số.
Hà Nam-VOV1
Bình luận