Trong ba đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định – thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực thì nguồn nhân lực chất lượng cao chính là đột phá trung tâm, giữ vai trò quyết định đối với khả năng phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Và để tạo ra nguồn nhân lực ấy, giáo dục và đào tạo là chìa khóa căn cơ, lâu dài và bền vững nhất. Nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII đã chứng kiến những chuyển động quan trọng của giáo dục Việt Nam – không chỉ ở quy mô, mà quan trọng hơn là sự chuyển đổi về tư duy phát triển, đặt nền móng cho đột phá nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đó, Văn kiện trình Đại hội XIV tiếp tục đặt ra mục tiêu cao hơn: xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới.
Năm 2025, 7 đoàn học sinh Việt Nam dự thi Olympic quốc tế và khu vực đã giành 37 huy chương, trong đó có 13 Huy chương Vàng. Tính từ 2016 đến nay, các đội tuyển quốc gia mang về 362 huy chương, với 112 Huy chương Vàng. Những con số ấn tượng ấy không chỉ là niềm tự hào, mà còn là minh chứng khẳng định: đầu tư đúng hướng cho giáo dục sẽ tạo ra lực lượng tinh hoa – nền tảng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên tri thức
Nhiều năm liền, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có thành tích Olympic hàng đầu thế giới. Điều đó khẳng định hướng đi đúng trong phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài – lấy con người làm trung tâm phát triển. Quan trọng hơn, đây không chỉ là thành quả của riêng ngành giáo dục, mà là kết quả của tư duy chiến lược nhất quán: xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là trụ cột của đột phá phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII, giáo dục và đào tạo tiếp tục được xác định là quốc sách hàng đầu, ưu tiên trong ba đột phá chiến lược. Nhận thức đã chuyển rõ từ “chi tiêu” sang đầu tư cho phát triển, thể hiện qua việc duy trì tỷ lệ chi cho giáo dục khoảng 5% GDP – một cam kết chính trị mạnh mẽ, đặt con người ở trung tâm năng lực cạnh tranh quốc gia dài hạn.
Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, giáo dục Việt Nam đã bước sang giai đoạn đổi mới từ tư duy đến hành động: từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng, hướng tới hình thành nguồn nhân lực có năng lực thích ứng, sáng tạo và học tập suốt đời. Việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới từ lớp 1 đến lớp 12 không chỉ là thay sách, mà là đổi cách dạy, cách học, lấy người học làm trung tâm, phát triển năng lực, phẩm chất và tư duy độc lập. Đây chính là sự chuyển dịch căn bản từ “học để thi” sang “học để làm, để sáng tạo và hội nhập” – nền tảng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp, đào tạo ngày càng gắn với thị trường lao động, tự chủ đại học được thúc đẩy, các ngành công nghệ – kỹ thuật mở rộng; tỷ lệ sinh viên theo học nhóm ngành này đạt trên 30%, từng bước thu hẹp độ lệch pha giữa đào tạo và sử dụng lao động.
Cùng với đó, nhà giáo được đặt ở vị trí trung tâm của đổi mới. Việc Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo, cùng với sửa đổi, hoàn thiện các luật liên quan đến giáo dục như Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp và Luật Giáo dục được sửa đổi, thể hiện quyết tâm tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách, đãi ngộ và phát triển đội ngũ. Một dấu ấn nổi bật khác theo ông Cao Ngọc Châu, Chánh văn phòng Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh là chuyển đổi số trong giáo dục, ứng dụng công nghệ và AI, xây dựng nền tảng học tập suốt đời. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật, mà là động lực hình thành công dân số, nhân lực số cho nền kinh tế tri thức.
Bên cạnh những kết quả đạt được, giáo dục vẫn cho thấy điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở chủ trương, mà ở khâu tổ chức thực hiện. Khi thể chế chưa thông, phân cấp chưa rõ, nguồn lực chưa gắn với trách nhiệm, thì nghị quyết dù đúng cũng khó tạo chuyển biến thực chất.
Trên cơ sở tổng kết nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ XIII, dự thảo Văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết 71 xác lập tầm nhìn giáo dục cao hơn, dài hạn hơn: xây dựng nền giáo dục hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới. Trọng tâm là đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, phát triển giáo dục STEM, giáo dục số, trí tuệ nhân tạo; gắn đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và nhu cầu thị trường lao động; đồng thời xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy học tập suốt đời. Cùng với chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục được xác định là giải pháp chiến lược mở rộng nền tảng nguồn nhân lực quốc gia. Các chính sách miễn học phí, xây dựng bộ sách giáo khoa thống nhất, tăng đầu tư cho vùng khó khăn không chỉ mang ý nghĩa an sinh, mà còn tạo nguồn nhân lực bền vững trong dài hạn.
Từ việc nhận diện rõ điểm nghẽn thể chế, Đảng và Nhà nước đang từng bước tháo gỡ bằng việc hoàn thiện chính sách, tăng quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình, đồng thời cụ thể hóa bằng các quyết sách thiết thực: miễn học phí đến hết THPT, hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh học 2 buổi tại một số địa phương, đầu tư hệ thống trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, thu hẹp khoảng cách vùng miền. Trong tinh thần đó, Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa giáo dục giai đoạn 2026–2035, với nguồn vốn hơn 580 nghìn tỷ đồng, được xác định là bước ngoặt chiến lược.
Đặt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, giáo dục và đào tạo càng phải giữ vững vị trí quốc sách hàng đầu, trở thành động lực then chốt của phát triển đất nước.
Đột phá giáo dục không thể là những giải pháp ngắn hạn, mà phải là quá trình đổi mới bền bỉ, có tầm nhìn dài hạn, với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Khi giáo dục thực sự trở thành nền tảng vững chắc, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là động lực mạnh mẽ để đất nước bứt phá.
Bình luận