Sau gần 10 năm thực hiện Luật Khí tượng thủy văn 2015, yêu cầu đặt ra với công tác khí tượng thủy văn đã thay đổi rất nhanh. Biến đổi khí hậu làm thời tiết cực đoan khó lường hơn, trong khi chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng lưới cảm biến đang mở ra những phương thức mới trong quan trắc, dự báo. Vì vậy, vấn đề không chỉ là sửa những quy định chưa còn phù hợp, mà quan trọng hơn là tạo hành lang pháp lý để ngành khí tượng thủy văn chuyển sang một cách tiếp cận mới.
Đóng góp ý kiến tại hội nghị GS.TS Trần Thục, Chủ tịch Hội Khí tượng Thủy văn Việt Nam cho rằng, đây là lĩnh vực cần một hành lang pháp lý đủ rộng để có thể phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới, thay vì quy định quá cứng vào từng loại sản phẩm hay phương pháp kỹ thuật. Cùng với đó là những cơ chế đột phá để huy động nguồn lực cho hoạt động khí tượng thủy văn.
Theo GS.TS Trần Thục, cần phân biệt dự báo, cảnh báo tác động chủ yếu phục vụ quản trị rủi ro thiên tai và các quyết định ngắn đến trung hạn. Còn dịch vụ khí hậu có phạm vi rộng hơn, cung cấp thông tin khí hậu theo mùa, theo năm hay dài hạn cho quy hoạch, đầu tư, sản xuất và thích ứng biến đổi khí hậu. "Luật nên tạo hành hành hành lang pháp lý cho các loại dịch vụ này, không quy định cứng sản phẩm hay phương pháp kỹ thuật. Bên cạnh đó cần bổ sung các cơ chế chính sách đột phá về nguồn lực" GS.TS Trần Thục nói.
Để những phương thức dự báo mới có thể vận hành, một yêu cầu khác được đặt ra là phải thay đổi chính hạ tầng quan trắc và cách thức quản lý, khai thác dữ liệu. Chính sách được đưa ra tại hội nghị hướng tới chuyển từ công nghệ quan trắc truyền thống sang tự động hóa, áp dụng công nghệ số và xã hội hóa nguồn lực đầu tư. Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn quốc gia dự kiến không chỉ sử dụng nguồn lực Nhà nước mà có thể huy động các nguồn lực xã hội hợp pháp khác, nhưng vẫn đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. Đồng thời, các mạng lưới quan trắc phải được kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khai thác hiệu quả những trạm hiện có.
Điều này cũng kéo theo yêu cầu rõ hơn đối với các tổ chức, doanh nghiệp đang quản lý, vận hành những công trình có nguy cơ chịu tác động lớn của thiên tai. Các đơn vị này có thể tự đầu tư hệ thống quan trắc, dự báo hoặc thuê dịch vụ đủ điều kiện; đồng thời phải tích hợp thông tin dự báo, cảnh báo quốc gia với dữ liệu chuyên dùng và chia sẻ dữ liệu theo quy định để nâng cao chất lượng dự báo chung. Ông Phạm Đức Hoài, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cho rằng: "Luật này là chúng ta thay thế nên là cũng mong là cho các chính sách cần luật hóa để làm sao mà có thể Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên là chúng ta luật hóa vào được ở cái luật này thì cái sự phối hợp đấy thì tôi nghĩ rằng là trong quá trình tổ chức thực hiện thì nó sẽ đảm bảo khả thi".
Một điểm đáng chú ý khác được các đại biểu đóng góp ý kiến tại hội nghị là yêu cầu luật hóa những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết những nội dung cần linh hoạt theo thực tiễn. Cách tiếp cận này nhằm vừa tạo cơ sở pháp lý đủ rõ, vừa tránh để Luật nhanh chóng lạc hậu trước tốc độ thay đổi của khoa học, công nghệ và phương thức cung cấp dịch vụ khí tượng thủy văn.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên yêu cầu thay đổi tư duy, một tư duy tiếp cận để xây dựng dự án Luật này. Bởi dự án Luật này rất quan trọng, liên quan nhiều lĩnh vực trong điều hành, trong quản trị. Chúng ta phải tiếp tục mổ xẻ và trên cơ sở định hướng của Trung ương và trên cơ sở đánh giá một cách nhìn nhận 10 năm tổng kết của Luật Khí tượng thủy văn năm 2015.
Theo dự kiến Dự án Luật Khí tượng thủy văn sửa đổi sẽ được trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5 năm 2027.
Quang Huy
Bình luận