Việt Nam cũng xác định công nghệ lượng tử là một trong 10 nhóm công nghệ chiến lược cần ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, để tham gia sâu hơn vào cuộc đua này, Việt Nam cần chuyển từ thế mạnh về lý thuyết, tính toán, mô phỏng sang xây dựng năng lực thực nghiệm và đầu tư cho con người ngay từ bây giờ.
Bên lề Hội nghị Khoa học và Công nghệ để phát triển bền vững đang được tổ chức tại Quy Nhơn (Gia Lai), phóng viên Đài TNVN đã phỏng vấn PGS.TS Lại Ngọc Điệp, chuyên gia vật lý quang học và vật lý lượng tử, giảng viên tại Đại học Paris-Saclay, Phòng thí nghiệm LuMIn, Pháp về vấn đề này.
PV: Thưa PGS.TS Lại Ngọc Điệp, thời gian gần đây thế giới nói nhiều về công nghệ lượng tử. Ông có thể cho biết xu hướng phát triển của công nghệ này trên thế giới hiện nay như thế nào?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Xu hướng hiện nay là lượng tử đang được nhiều quốc gia coi là một chiến lược, bởi lĩnh vực này có rất nhiều tiềm năng. Công nghệ lượng tử có nhiều hướng khác nhau, như máy tính lượng tử, truyền thông lượng tử, cảm biến lượng tử hay đo lường lượng tử.
Ở Việt Nam hiện nay, người ta quan tâm nhiều hơn đến máy tính lượng tử và truyền thông lượng tử. Nếu chúng ta làm được một máy tính lượng tử thì khả năng tính toán có thể tăng lên rất nhiều lần so với máy tính cổ điển. Có những bài toán mà máy tính siêu tính toán cổ điển có thể cần một năm để giải quyết, nhưng máy tính lượng tử có thể thực hiện trong thời gian rất ngắn.
Một ví dụ là nghiên cứu và phát triển thuốc. Nếu sử dụng máy tính cổ điển để tính toán, tìm ra một công thức thuốc hiệu quả có thể mất rất nhiều năm. Với máy tính lượng tử, về nguyên tắc có thể rút ngắn đáng kể thời gian tính toán.
PV: Qua quá trình nghiên cứu và làm việc tại Pháp cũng như với các nhà khoa học quốc tế, ông đánh giá thế nào về sự phát triển của công nghệ lượng tử hiện nay? Các quốc gia đang ở đâu trong cuộc đua này?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Vật lý lượng tử đã có khoảng 100 năm. Năm 2025 là thời điểm kỷ niệm 100 năm về lý thuyết lượng tử. Nhưng công nghệ lượng tử thì mới thực sự được nói đến nhiều trong thời gian gần đây, bởi nó phải chờ các ngành khoa học khác phát triển đồng bộ để có thể tạo ra và kiểm soát các trạng thái lượng tử.
Ví dụ với ánh sáng, chúng ta đã tạo ra laser từ những năm 1960. Nhưng một chùm laser có hàng tỷ photon phát ra cùng lúc vẫn mang tính chất cổ điển. Còn lượng tử là khi chúng ta có thể làm việc với từng hạt riêng lẻ, chẳng hạn từng photon.
Gần đây, công nghệ đã cho phép tạo ra những nguồn phát từng photon một. Khi đó, chúng ta mới có thể khai thác những tính chất ưu việt của lượng tử để phát triển các ứng dụng mới.
Trên thế giới, các nước đã có nền tảng lý thuyết, hệ thống đào tạo và nguồn nhân lực tương đối đồng bộ. Các trường đại học đào tạo nhiều tiến sĩ, kỹ sư liên quan đến lượng tử. Vì vậy, việc họ tiếp tục phát triển các startup, sản xuất máy tính lượng tử hay các công nghệ liên quan là một quá trình tiếp nối.
Còn Việt Nam, trước đây có những giai đoạn khó khăn nên chưa có điều kiện đầu tư cho những lĩnh vực như vậy. Nhưng ngày nay điều kiện đã khác. Tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể chạy song song với thế giới, trước hết là học hỏi, sau đó hướng tới cạnh tranh.
Bởi công nghệ lượng tử hiện nay vẫn còn rất nhiều khó khăn. Máy tính lượng tử đã có nhưng chưa hoàn thiện và chưa chứng minh được đầy đủ ưu thế trong tất cả các bài toán. Vì vậy, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để đào tạo nhân lực, mở phòng thí nghiệm và hy vọng trong khoảng 5-10 năm có thể chạy kịp.
PV: Theo ông, hiện nay Việt Nam có những lợi thế nào để tham gia vào cuộc đua công nghệ lượng tử?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Lợi thế trước hết là con người. Tuổi trẻ Việt Nam về cơ bản chịu khó học tập, ham học và rất nhanh nhạy.
Trong lĩnh vực lượng tử, Việt Nam có một lợi thế khá lớn, có thể so sánh với các nước trên thế giới, đó là lý thuyết lượng tử, tính toán lượng tử, mô phỏng, thậm chí cả lĩnh vực hậu lượng tử.
Nhưng đó mới chủ yếu là phần lý thuyết. Điểm yếu rất lớn của chúng ta là thực nghiệm.
Do điều kiện trước đây còn khó khăn nên chúng ta gần như chưa có những phòng thí nghiệm vật lý đủ mạnh, chứ chưa nói đến phòng thí nghiệm lượng tử. Vì vậy, chúng ta thiếu cả cơ sở để thực hiện các thí nghiệm lượng tử và đào tạo nhân lực thực nghiệm.
Theo tôi, Việt Nam cần làm bài bản hai việc: thứ nhất là xây dựng các phòng thí nghiệm; thứ hai là đào tạo con người về thực nghiệm.
Các giáo sư, nhà khoa học ở nước ngoài, trong đó có tôi, rất sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong việc xây dựng phòng thí nghiệm cũng như đào tạo con người. Vì vậy, chúng ta nên tận dụng tốt các hợp tác quốc tế để phát triển.
PV: Công nghệ lượng tử là một trong 10 nhóm công nghệ chiến lược mà Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ. Theo ông, ngoài xây dựng hạ tầng và phòng thí nghiệm, Việt Nam cần làm gì để hiện thực hóa mục tiêu này?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Tôi nghĩ từ “làm chủ” lượng tử hơi to tát, bởi lượng tử là một lĩnh vực rất rộng.
Chúng ta đang mạnh ở lý thuyết và mô phỏng thì vẫn phải tiếp tục làm thật tốt phần đó. Nhưng cả một trận bóng thì không thể chỉ có phòng thủ mà phải có tấn công. Vì vậy, chúng ta cũng phải phát triển phần thực nghiệm, tạo ra công nghệ lượng tử.
Tôi cho rằng không nên chạy theo việc sản xuất ngay một máy tính lượng tử thật lớn, mà phải làm từ từ, rất cơ bản. Nếu chúng ta có nền tảng cơ bản thì sau đó các startup và những sản phẩm công nghệ lượng tử sẽ tự nhiên phát triển.
Việt Nam cũng không thể làm tất cả các hướng của lượng tử cùng một lúc. Chúng ta cần tập trung vào một số lĩnh vực cần thiết, có khả năng triển khai nhanh.
Một vấn đề nữa là cách tổ chức nghiên cứu. Hiện nay các trường, viện ở Việt Nam còn ít hợp tác với nhau, các nhóm thực nghiệm nếu có cũng khá phân tán. Trên thế giới, xu hướng là các phòng thí nghiệm phải đi cùng nhau, kết hợp sức mạnh của nhiều đơn vị.
Ví dụ ở Pháp, có những phòng thí nghiệm kết hợp giữa nhiều đơn vị. Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia của Pháp có thể cử các nhà nghiên cứu đến làm việc cùng các giáo sư ở một trường đại học, rồi các trường đại học tiếp tục kết hợp với nhau.
Tôi nghĩ Việt Nam có thể thử mô hình này trong lĩnh vực lượng tử. Có thể thành lập một trung tâm tập trung, đưa các nhà nghiên cứu từ nhiều đơn vị về cùng làm việc và được Nhà nước đầu tư.
Nhưng không nên đầu tư dàn trải. Trước mắt có thể thí điểm một, hai hoặc ba trung tâm có khả năng tạo ra kết quả để tạo niềm tin, sau đó tiếp tục mở rộng.
PV: Như ông vừa cho biết thì công nghệ lượng tử có nhiều hướng ứng dụng và phát triển. Vậy với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nên lựa chọn “cửa ngách” nào để tham gia vào chuỗi công nghệ lượng tử toàn cầu?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Tôi muốn đính chính một điểm: lý thuyết lượng tử đã có 100 năm, còn công nghệ lượng tử mới phát triển gần đây. Vì vậy, Việt Nam không nhất thiết phải học lại lý thuyết lượng tử của những người đi trước. Sách vở, nền tảng lý thuyết đã có.
Bây giờ chúng ta cần chạy theo thế giới ở phần công nghệ, tức là đào tạo con người về thực nghiệm.
Chúng ta đang làm khá tốt phần hậu lượng tử thì tiếp tục phát huy phần đó. Nhưng giống như một trận bóng, không thể chỉ có hậu vệ mà phải có tiền đạo. Chúng ta vẫn phải đào tạo con người về thực nghiệm.
Ngay cả việc mua máy tính lượng tử về để sử dụng cũng không phải là giải pháp lâu dài. Máy tính lượng tử rất đắt và công nghệ thay đổi rất nhanh. Vì vậy, Việt Nam cần có các phòng thí nghiệm cơ bản để đào tạo, nghiên cứu và đào tạo con người thực nghiệm.
PV: Trong khoảng 5-10 năm tới, ông hình dung bức tranh công nghệ lượng tử của Việt Nam sẽ như thế nào?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Nếu không có gì thay đổi về mặt thực nghiệm, 5-10 năm tới chúng ta sẽ rất giỏi về phần hậu lượng tử, nhưng không có nhiều người làm công nghệ lượng tử. Chúng ta tiếp tục phải đi mua công nghệ.
Nhưng bức tranh đó hoàn toàn có thể thay đổi nếu ngay bây giờ Chính phủ có cách làm quyết liệt, mạnh mẽ: đầu tư cho con người, đầu tư cho phòng thí nghiệm, tuyển đúng người, đặt đúng chỗ.
Nếu làm được như vậy, 5 năm nữa chúng ta có thể có những trung tâm lượng tử ra đời và hoàn toàn có thể kỳ vọng thi đấu cùng các nước trên thế giới, bởi con người Việt Nam có trình độ.
Một năm thì tôi không dám nói, nhưng 5 năm thì tôi dám làm được, nếu đầu tư ngay từ hôm nay.
PV: Được biết, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện đang được giao xây dựng và hoàn thiện “Đề án nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ lượng tử”, trong đó hợp phần xây dựng Trung tâm lượng tử quốc gia. Ông nghĩ sao về điều này và nếu được mời về nước làm việc, ông có sẵn sàng tham gia?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Nếu về thì tôi về trước. Tôi là người rất quan tâm đến khoa học của đất nước. Tôi đã gắn bó với việc đào tạo sinh viên Việt Nam, thường xuyên về Việt Nam và rất muốn khoa học trong nước có sự thay đổi.
Tôi cũng thường nói với sinh viên của mình rằng, nếu Việt Nam, nếu Chính phủ hoặc các trường tạo cho mình cơ hội để làm tốt khoa học ngay trên đất nước mình thì tôi sẵn sàng về nước làm việc.
Nhưng để thu hút các nhà khoa học đang ở nước ngoài, phải hiểu rằng họ phải đánh đổi rất nhiều. Có những người có vị trí, có gia đình và nhiều ràng buộc. Vì vậy, cần có một bài toán cụ thể.
Theo tôi, dễ thu hút nhất là đội ngũ trẻ hơn, những nghiên cứu sinh vừa hoàn thành hoặc các postdoc. Những người này chưa bị ràng buộc với một cơ sở nghiên cứu cụ thể nên việc thu hút họ về Việt Nam sẽ dễ hơn.
PV: Theo ông, đâu là những điều kiện quan trọng nhất để thu hút một chuyên gia, một nhà khoa học giỏi ở nước ngoài về Việt Nam?
PGS.TS Lại Ngọc Điệp: Theo tôi có hai điều kiện chính.
Thứ nhất là cuộc sống của người đó phải được bảo đảm. Về tiền lương, tôi nghĩ Chính phủ đã có câu trả lời, chẳng hạn mức đãi ngộ cho tổng công trình sư có thể lên tới 300 triệu đồng. Tiền không phải là vấn đề duy nhất.
Điều thứ hai, và khó hơn rất nhiều, là khi nhà khoa học về Việt Nam thì họ phải thực sự làm được việc.
Môi trường và hệ sinh thái khoa học rất quan trọng. Nếu nhà khoa học về mà phải chạy từ bộ này sang bộ kia, đơn vị này đồng ý nhưng đến đơn vị khác lại vướng, thì rất khó làm việc.
Tôi từng trao đổi rằng nếu muốn thu hút người Việt Nam có năng lực ở nước ngoài về thì cần có một cơ chế hoặc một bộ phận chuyên trách để triển khai việc này, giúp các nhà khoa học có thể về và làm việc một cách thuận lợi.
Nói ngắn gọn, một là cuộc sống phải được bảo đảm; hai là người ta phải có điều kiện để thực sự làm được việc. Nếu về mà không làm được, lại vướng vào một hệ sinh thái quá khó khăn, thì cuối cùng người ta cũng sẽ bỏ đi.
Nếu một người yêu nước thì có thể họ chấp nhận hy sinh một điều kiện, chẳng hạn tiền lương không phải vấn đề. Nhưng điều kiện để họ được làm khoa học thực sự thì phải có.
Vâng, xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lại Ngọc Điệp!
Diễn ra từ 7 - 8/10, tại Quy Nhơn (Gia Lai), Hội nghị Khoa học và Công nghệ để phát triển bền vững nằm trong khuôn khổ Chương trình “Gặp gỡ Việt Nam” lần thứ XXII do Hội Khoa học Gặp gỡ Việt Nam và Trung tâm Khoa học và Giáo dục liên ngành phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng UBND tỉnh Gia Lai tổ chức.
Đây là hội nghị thứ tư trong chuỗi hội nghị liên ngành về khoa học và xã hội do Hội Khoa học Gặp gỡ Việt Nam tổ chức tại Việt Nam, sau các hội nghị “Khoa học cơ bản và Xã hội” năm 2016, “Khoa học để Phát triển” năm 2018 và “Khoa học, Đạo đức học và Phát triển con người” năm 2022.
Bình luận