VOV1  •  KINH TẾ  •  EMAGAZINE
APEC 2027

TỪ CƠ HỘI HỘI NHẬP ĐẾN NĂNG LỰC KIẾN TẠO TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM

Kiến trúc tại Phú Quốc
Một góc kiến trúc tại Phú Quốc, địa phương chuẩn bị đón các hoạt động APEC 2027.
Việc Việt Nam tiếp nhận vai trò chủ trì Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC năm 2027 mở ra cơ hội nâng cao vị thế quốc gia, tăng cường hợp tác tài chính và thu hút nguồn lực quốc tế. Tuy nhiên, giá trị lớn nhất của cơ hội này không nằm ở quy mô của một sự kiện, mà ở khả năng chuyển hóa các ưu tiên hợp tác thành cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn và tạo ra những động lực tăng trưởng có chất lượng cho nền kinh tế.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng và Chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững Huỳnh Thị Mỹ Nương chia sẻ quan điểm cùng VOV1.

Hội nghị hợp tác kinh tế khu vực
Đại biểu tham dự hội nghị hợp tác kinh tế, tài chính khu vực.

Trong hai ngày 20–21/10/2026, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 33 diễn ra tại Hồng Kông, Trung Quốc đã đạt được những đồng thuận quan trọng. Đó là việc phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô, tăng cường hợp tác tài chính và thúc đẩy kết nối khu vực.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn khẳng định Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC 2026 đã gặt hái được những thành tựu hết sức chiến lược và thực chất với việc hội nghị đã chính thức thông qua Tuyên bố chung. Văn kiện này tái khẳng định cam kết mạnh mẽ của các nền kinh tế thành viên hướng tới một cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương mở, năng động, tự cường và hòa bình vào năm 2040, đồng thời đạt đồng thuận cao về việc duy trì các chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, đáng tin cậy nhằm bảo vệ sự ổn định tài chính khu vực.

Phiên làm việc tại WTO
Một phiên làm việc tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) — ảnh minh họa bối cảnh hợp tác thương mại đa phương, không phải hội nghị APEC.

Điểm nhấn quan trọng tại hội nghị, đó là tại phiên thảo luận về kinh tế vĩ mô, đại diện Việt Nam đã trình bày bài phát biểu dẫn đề quan trọng, thông báo những kết quả ấn tượng của nền kinh tế trong nước. Trong 9 tháng đầu năm 2026, GDP của Việt Nam đạt mức tăng trưởng 9,01%, riêng quý III đạt 9,95%. Việc chính thức gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, thị trường chứng khoán được nâng hạng lên thị trường mới nổi, cùng lần đầu tiên đạt mức "Xếp hạng đầu tư" từ một tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín toàn cầu đã tiếp tục củng cố và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

Một điểm nhấn đặc biệt thu hút sự chú ý tại sự kiện là việc Việt Nam chính thức tiếp nhận vai trò chủ trì Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC năm 2027 và công bố 4 chủ đề ưu tiên cho Tiến trình Bộ trưởng Tài chính APEC 2027 trên cương vị chủ trì hội nghị. Đó là củng cố thị trường vốn nhằm khơi thông nguồn vốn tư nhân cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; thúc đẩy tài chính dựa trên dữ liệu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME); đa dạng hóa các nguồn lực tài chính cho phát triển; và nâng cao năng lực nguồn nhân lực trẻ trong lĩnh vực tài chính.

Nhìn từ góc độ kinh tế học, bốn chủ đề này không phải những nội dung riêng biệt. Chúng cùng hướng đến một vấn đề cốt lõi: làm thế nào để huy động được nguồn lực cần thiết, phân bổ nguồn lực đúng chỗ và chuyển hóa nguồn lực thành năng suất, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng bền vững?

Đây là câu hỏi có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số, khoa học – công nghệ, năng lượng, nâng cao chất lượng nhân lực và phát triển khu vực kinh tế tư nhân đều đặt ra yêu cầu lớn đối với năng lực huy động và sử dụng vốn.

GÓC NHÌN KINH TẾ   /   01

APEC 2027, cơ hội để Việt Nam nâng cao chất lượng các cơ chế tài chính

“Vốn đầu tư công phải được sử dụng hiệu quả; tín dụng ngân hàng cần gắn với quản trị rủi ro và thị trường vốn phải trở thành kênh tài trợ đáng tin cậy.”
Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng
Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng nhấn mạnh: APEC 2027 không chỉ là sự kiện đối ngoại quan trọng, mà cần xem đây là cơ hội để Việt Nam rà soát, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các cơ chế tài chính phục vụ phát triển.

Trên thực tế, thị trường vốn là một trong những nền tảng quan trọng của nền kinh tế hiện đại. Một hệ thống tài chính phát triển không thể phụ thuộc quá lớn vào một kênh cung ứng vốn duy nhất, mà cần sự phối hợp giữa tín dụng ngân hàng, thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu và các định chế đầu tư dài hạn.

Đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết. Nhiều dự án công nghệ, nghiên cứu phát triển và chuyển đổi xanh cần thời gian dài để hình thành sản phẩm, mở rộng thị trường và tạo ra dòng tiền. Trong giai đoạn đầu, doanh nghiệp có thể chưa sở hữu đầy đủ tài sản bảo đảm hoặc chưa có lịch sử tài chính đủ dài để đáp ứng điều kiện tín dụng truyền thống.

Nếu không có các kênh huy động vốn phù hợp, nhiều ý tưởng có tiềm năng sẽ gặp khó khăn ngay từ giai đoạn đầu tư. Khi đó, nền kinh tế không chỉ thiếu vốn, mà còn có nguy cơ bỏ lỡ những cơ hội đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.

Tuy nhiên, phát triển thị trường vốn không đơn giản là tăng quy mô giao dịch hoặc mở rộng số lượng sản phẩm tài chính. Một thị trường tăng trưởng nhanh nhưng thiếu minh bạch, kỷ luật và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư có thể tạo ra rủi ro lớn cho toàn hệ thống.

Chính vì vậy, chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững Huỳnh Thị Mỹ Nương cho rằng “Việt Nam cần tập trung vào bốn hướng cải cách”

Chuyên gia Huỳnh Thị Mỹ Nương
Chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững Huỳnh Thị Mỹ Nương.
Thứ nhất

tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao chất lượng công bố thông tin, chuẩn mực quản trị doanh nghiệp và trách nhiệm giải trình của các tổ chức phát hành.

Thứ hai

phát triển cân đối các kênh huy động vốn trung và dài hạn, tạo điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn phương thức tài trợ phù hợp với quy mô, đặc điểm hoạt động và khả năng chịu rủi ro.

Thứ ba

mở rộng cơ sở nhà đầu tư dài hạn, nâng cao chất lượng các định chế trung gian và năng lực đánh giá rủi ro, đồng thời củng cố niềm tin của thị trường.

Thứ tư

tăng cường giám sát, xử lý nghiêm các hành vi gian lận, thao túng và sử dụng vốn sai mục đích, nhưng phải bảo đảm việc thực thi pháp luật minh bạch, nhất quán và có khả năng dự báo.

Một thị trường vốn mạnh không chỉ huy động được nhiều tiền, mà phải phân bổ được vốn hiệu quả, minh bạch và bền vững.

GÓC NHÌN KINH TẾ   /   02

Mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, không tạo thêm bất bình đẳng

TÀI CHÍNH DỰA TRÊN DỮ LIỆU

Một trong những hạn chế mà doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa thường gặp phải là khó tiếp cận nguồn vốn phù hợp. Không ít doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thực chất nhưng thiếu tài sản bảo đảm, hồ sơ tài chính chưa đầy đủ hoặc chưa có đủ dữ liệu để chứng minh năng lực trả nợ theo các phương pháp thẩm định truyền thống.

Tài chính dựa trên dữ liệu mở ra một hướng tiếp cận mới đối với Việt Nam.

Khi được xây dựng trên cơ sở pháp lý rõ ràng, dữ liệu đáng tin cậy và công nghệ phù hợp, các tổ chức tài chính có thể đánh giá khách hàng toàn diện hơn, giảm một phần chi phí thẩm định và phát triển các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của từng nhóm doanh nghiệp.

Dữ liệu về giao dịch, dòng tiền, hóa đơn, lịch sử thanh toán và hoạt động kinh doanh có thể bổ sung thông tin hữu ích cho quá trình đánh giá tín dụng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ, vốn thường không có nhiều nguồn lực để xây dựng hệ thống báo cáo và quản trị phức tạp như các doanh nghiệp lớn.

Dù vậy, cần tránh quan niệm rằng chỉ cần số hóa dữ liệu là có thể giải quyết căn bản vấn đề tiếp cận vốn.

Nếu dữ liệu không chính xác, không đầy đủ hoặc thiếu khả năng kiểm chứng, quyết định tài chính vẫn có thể sai lệch. Nếu các hệ thống không tương thích, chi phí kết nối và xử lý thông tin có thể tăng cao. Nếu cơ chế chia sẻ dữ liệu thiếu minh bạch, quyền riêng tư và niềm tin của khách hàng có thể bị ảnh hưởng.

Do đó, Việt Nam cần phát triển hạ tầng dữ liệu tài chính theo hướng đồng bộ, có khả năng kết nối và kiểm soát truy cập; xác định rõ trách nhiệm của các bên trong thu thập, sử dụng và chia sẻ dữ liệu; bảo vệ dữ liệu cá nhân; đồng thời xây dựng cơ chế giải trình và xử lý khiếu nại đối với những quyết định tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến khách hàng.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực quản trị của doanh nghiệp nhỏ, giúp doanh nghiệp chuẩn hóa thông tin kế toán, hóa đơn, dòng tiền và hồ sơ hoạt động. Khi dữ liệu được cải thiện từ phía doanh nghiệp, các công cụ tài chính mới có thể phát huy hiệu quả đầy đủ hơn.

GÓC NHÌN KINH TẾ   /   03

Đa dạng hóa nguồn lực tài chính: Kết hợp nội lực với ngoại lực

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng và Chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững Huỳnh Thị Mỹ Nương phân tích “Nhu cầu vốn cho phát triển ngày càng lớn, trong khi khả năng cung ứng của từng nguồn lực đều có giới hạn. Vì vậy, đa dạng hóa nguồn lực tài chính là yêu cầu tất yếu”.

Chuyên gia Nguyễn Hoàng Dũng trao đổi
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng trao đổi về các vấn đề phát triển.
Chuyên gia Huỳnh Thị Mỹ Nương trao đổi
Chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững Huỳnh Thị Mỹ Nương trong một cuộc trao đổi.

Tuy nhiên, đa dạng hóa không có nghĩa là huy động càng nhiều nguồn vốn càng tốt. Điều quan trọng là lựa chọn được cơ cấu tài trợ phù hợp với tính chất dự án, khả năng tạo dòng tiền, mức độ rủi ro và lợi ích phát triển dài hạn.

Ông Nguyễn Hoàng Dũng nhận định “Việt Nam cần quan tâm đến bốn nhóm nguồn lực chủ yếu”.

Thứ nhất

phát huy nguồn lực trong nước. Đây là nền tảng quan trọng để củng cố năng lực tự chủ kinh tế. Cần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao niềm tin thị trường và tạo điều kiện để tiết kiệm của người dân, vốn của doanh nghiệp và nguồn lực của các định chế đầu tư được chuyển hóa thành đầu tư sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Thứ hai

thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng. Bên cạnh quy mô vốn, cần quan tâm đến công nghệ, hoạt động nghiên cứu phát triển, chất lượng việc làm, đào tạo lao động, nghĩa vụ tuân thủ và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Một dự án đầu tư tạo ra mạng lưới nhà cung ứng nội địa, thúc đẩy chuyển giao kỹ năng và nâng cao năng suất có thể tạo ra giá trị lâu dài lớn hơn một dự án chủ yếu dựa vào ưu đãi để tối ưu chi phí.

Thứ ba

phát triển hợp tác công – tư. Đây là công cụ có thể huy động nguồn lực và chuyên môn của khu vực tư nhân vào những dự án hạ tầng, dịch vụ công phù hợp. Tuy nhiên, hợp tác công – tư chỉ hiệu quả khi dự án được chuẩn bị kỹ, phương án tài chính minh bạch, trách nhiệm giữa các bên rõ ràng và rủi ro được phân bổ hợp lý. Không nên sử dụng cơ chế này để chuyển những rủi ro không được kiểm soát sang ngân sách nhà nước hoặc người sử dụng dịch vụ.

Thứ tư

mở rộng tài chính xanh và các nguồn vốn phát triển quốc tế. Những nguồn lực này có thể hỗ trợ các dự án tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và phát triển hạ tầng bền vững. Điều kiện quan trọng là tiêu chí môi trường phải rõ ràng, hiệu quả sử dụng vốn có thể đo lường và các cam kết được thực hiện thực chất.

Phú Quốc về đêm
Phú Quốc lung linh về đêm.

Các nhóm nguồn lực này cần được kết nối trong một chiến lược tài chính thống nhất. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, đầu tư vào những nền tảng thiết yếu và xử lý các điểm nghẽn thuộc trách nhiệm công; khu vực tư nhân phát huy năng lực kinh doanh, đổi mới sáng tạo và phân bổ vốn theo tín hiệu thị trường; các đối tác quốc tế đóng góp nguồn lực, công nghệ và kinh nghiệm phù hợp.

Tự chủ kinh tế không đồng nghĩa với khép kín. Ngược lại, một nền kinh tế có nội lực mạnh sẽ có khả năng tiếp nhận và sử dụng nguồn lực quốc tế hiệu quả hơn.

“Nội lực tạo nền tảng, ngoại lực mở rộng cơ hội. Thể chế tốt quyết định khả năng kết hợp hai nguồn lực đó thành sức mạnh phát triển”
Chuyên gia Huỳnh Thị Mỹ Nương
VOV1 • EMAGAZINE
APEC 2027 — KIẾN TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG
Tư liệu và nội dung theo bản thảo do tác giả cung cấp