APEC – TỪ HÀNH TRÌNH LỊCH SỬ ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI
Từ một ý tưởng kết nối đến diễn đàn của 21 nền kinh tế
Câu chuyện APEC bắt đầu vào năm 1989. Khi đó, Chiến tranh Lạnh đang đi đến những năm cuối. Kinh tế thế giới thay đổi nhanh chóng. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương nổi lên như một trung tâm tăng trưởng mới. Tại Canberra, Australia, 12 nền kinh tế gặp nhau và hình thành Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, gọi tắt là APEC. Điều đáng chú ý là APEC ngay từ đầu không được xây dựng như một tổ chức có tính ràng buộc cao. Không có một hiệp ước thương mại duy nhất. Không có cơ chế trừng phạt. Thay vào đó là đối thoại, đồng thuận, tự nguyện và hợp tác cùng có lợi.
Theo truyền thống, APEC là một diễn đàn nhằm hài hòa các quy định, tạo điều kiện để hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn đầu tư có thể lưu chuyển xuyên biên giới thuận lợi hơn. Đó vốn là chức năng truyền thống của Diễn đàn này. APEC cũng thực sự đã trở thành một cơ chế tạo động lực hành động – một dịp để các nhà lãnh đạo gặp gỡ trực tiếp, đồng thời tiến hành các cuộc gặp song phương bên lề hội nghị.
Từ 12 thành viên ban đầu, năm 1991, Trung Quốc đại lục, Hong Kong (Trung Quốc) và Đài Loan (Trung Quốc) gia nhập APEC, mở rộng đáng kể quy mô và tầm ảnh hưởng của Diễn đàn.
Năm 1993, một bước ngoặt quan trọng xuất hiện. Tại Blake Island, Seattle, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC lần đầu tiên gặp nhau. Tuyên bố năm đó đưa ra một tầm nhìn rất đáng chú ý: xây dựng một cộng đồng kinh tế châu Á – Thái Bình Dương dựa trên hợp tác, thịnh vượng và một hệ thống thương mại mở. Các nhà lãnh đạo khi ấy nhìn thấy một khu vực đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Và họ hiểu rằng, nếu các nền kinh tế cùng phát triển, thì hợp tác sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn đối đầu.
Nhưng nếu 1993 là năm hình thành tầm nhìn, thì 1994 là năm APEC đặt ra một mục tiêu cụ thể. Tại Bogor, Indonesia, các nhà lãnh đạo thống nhất hướng tới tự do và mở cửa thương mại, đầu tư trong khu vực. Được biết đến với tên gọi Mục tiêu Bogor. Thời hạn hoàn thành cho các nền kinh tế phát triển là năm 2010 và các nền kinh tế đang phát triển là năm 2020.
Một năm sau, tại Osaka, Nhật Bản, Chương trình hành động Osaka ra đời, biến những mục tiêu chính trị thành chương trình hành động. Từ đây, APEC ngày càng đi sâu vào ba hướng lớn: Tự do hóa thương mại và đầu tư; Thuận lợi hóa thương mại; Và hợp tác kinh tế – kỹ thuật.
Rồi thế giới bước sang thế kỷ XXI với rất nhiều biến chuyển: Khủng hoảng tài chính châu Á; Khủng hoảng tài chính toàn cầu; Sự bùng nổ của Internet và thương mại điện tử; Biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, sự bùng phát của đại dịch COVID-19 và sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo….
Năm 2020, Hội nghị APEC được tổ chức theo hình thức trực tuyến, do Malaysia chủ trì, khi đó đại dịch COVID-19 trở thành trọng tâm; APEC thông qua Tầm nhìn Putrajaya 2040 với định hướng xây dựng một cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương mở, năng động, tự cường và hòa bình vào năm 2040, vì sự thịnh vượng của tất cả người dân và các thế hệ tương lai….
Có thể nói, hơn ba thập kỷ sau ngày thành lập, APEC đã thay đổi rất nhiều. Nhưng có một điều gần như không thay đổi: APEC vẫn được xây dựng trên niềm tin rằng sự kết nối giữa các nền kinh tế có thể tạo ra thịnh vượng chung. Đây cũng là nhận định của bà Maria Solis - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Á của Brookings.
Không chỉ kết nối, APEC còn kiến tạo luật chơi
Rõ ràng APEC là một nền tảng đã không ngừng biến đổi. Tuy nhiên, những nhiệm vụ cốt lõi vẫn được giữ nguyên. Đó là thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, đồng thời trở thành kênh tiến hành ngoại giao cấp cao. Khi APEC được thành lập, ý tưởng khi ấy mang một nét rất đặc biệt: đó là thúc đẩy cái gọi là “chủ nghĩa khu vực mở”. Nói cách khác, APEC là sự khước từ những ý tưởng như một “pháo đài châu Á” hay một “pháo đài nước Mỹ”. Thay vào đó, mục tiêu là kết nối 21 nền kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương lại với nhau. Tất nhiên, mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế lại có những quan điểm khác nhau về động lực nào nên dẫn dắt tiến trình hội nhập, cũng như hình thức hội nhập nên như thế nào.
Một vai trò rất quan trọng khác của APEC trong tiến trình hội nhập kinh tế là diễn đàn này thực sự đóng vai trò như một “điểm kết nối” giữa những hiệp định thương mại khu vực quan trọng nhất hiện nay. Chúng ta có Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực – RCEP, và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – CPTPP. Và về lâu dài, ý tưởng là hướng tới một khu vực thương mại tự do bao trùm 21 nền kinh tế APEC. Tất nhiên, tình hình địa chính trị hiện nay chưa cho phép điều đó trở thành hiện thực. Nhưng những hiệp định thương mại quy mô lớn đang tồn tại.
Một điểm cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh, xét về sứ mệnh kinh tế của APEC, đó là diễn đàn này đã hoạt động khá thành công như một “phòng thí nghiệm” chính sách. APEC đã thử nghiệm và đưa ra những cách tiếp cận mới đối với tự do hóa thương mại, sau đó một số sáng kiến đã được đưa vào các quy định và khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Một ví dụ có tác động rất lớn là Hiệp định Công nghệ Thông tin (ITA). Hiệp định này về cơ bản đã mở đường cho việc tự do hóa thương mại đối với các sản phẩm điện tử và công nghệ thông tin. Và tất cả chúng ta ngày nay đều đang hưởng lợi từ sự bùng nổ của trao đổi kinh tế mà những tiến bộ đó góp phần tạo ra.
Có thể nói, nhìn từ quá khứ đến hiện tại, có thể thấy sứ mệnh của APEC đã đi qua ít nhất ba tầng nấc. Tầng thứ nhất: kết nối: Kết nối các nền kinh tế bằng thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng. Tầng thứ hai: đối thoại. Đưa các nhà lãnh đạo ngồi lại với nhau, kể cả khi giữa họ tồn tại những khác biệt sâu sắc. Và tầng thứ ba: kiến tạo. Kiến tạo những ý tưởng, những nguyên tắc và những cơ chế để khu vực có thể thích ứng với một thế giới mới.
Đó cũng là lý do APEC vẫn có thể đóng vai trò quan trọng ngay cả khi cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gay gắt. Bởi APEC không chỉ là câu chuyện về Mỹ hay Trung Quốc. Đó là câu chuyện về cách 21 nền kinh tế cùng định hình tương lai của một trong những khu vực năng động nhất thế giới.
Và chính ở đây, câu chuyện của Việt Nam bắt đầu trở nên đặc biệt. Bởi với một nền kinh tế có độ mở cao, Việt Nam không đứng ngoài những chuyển động của APEC. Việt Nam vừa hưởng lợi từ hội nhập… vừa trực tiếp đối mặt với những rủi ro của một thế giới mà thương mại, công nghệ và chuỗi cung ứng ngày càng gắn chặt với cạnh tranh chiến lược.
Và Việt Nam có thể đóng góp gì vào việc kiến tạo tương lai của khu vực?
Từ thành viên mới đến người chủ động kiến tạo
Năm 1998, Việt Nam cùng Peru và Nga gia nhập APEC, đưa số thành viên của diễn đàn lên 21 nền kinh tế. Từ một thành viên mới, Việt Nam từng bước trở thành một thành viên tích cực, chủ động và ngày càng có vai trò trong việc định hình chương trình nghị sự của APEC.
Năm 2006, Việt Nam lần đầu tiên đăng cai APEC. Chủ đề của Năm APEC Việt Nam 2006 là: “Hướng tới một cộng đồng năng động vì phát triển bền vững và thịnh vượng.” Đó là thời điểm Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Và cũng chính trong năm này, Việt Nam gia nhập WTO. Các nhà lãnh đạo APEC khi ấy đã ghi nhận việc Việt Nam gia nhập WTO như một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế. Có thể nói, APEC 2006 không chỉ là một sự kiện đối ngoại, đ còn là dấu mốc cho thấy Việt Nam đang chuyển từ tham gia hội nhập sang chủ động định hình môi trường hội nhập.
Mười một năm sau, Việt Nam một lần nữa đăng cai APEC. Lần này, tại Đà Nẵng. Chủ đề là “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung.” -một chủ đề rất phù hợp với thời điểm thế giới đang đứng trước những thay đổi sâu sắc về công nghệ, thương mại và mô hình tăng trưởng. Tại Hội nghị Cấp cao APEC 2017, các nhà lãnh đạo nhấn mạnh mục tiêu tạo động lực mới cho hợp tác, thúc đẩy tăng trưởng bền vững, đổi mới và bao trùm.
Dưới sự chủ trì của Việt Nam, hai Hội nghị Cấp cao APEC Hà Nội năm 2006 và Đà Nẵng năm 2017 đều được đánh giá hết sức thành công, đạt những kết quả quan trọng, có ý nghĩa mang tính chiến lược đối với Diễn đàn APEC cũng như hợp tác, liên kết kinh tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thậm chí, 2017 được đánh giá năm APEC thành công nhất sau 10 năm khi có sự tham dự của đông đủ các nhà lãnh đạo kinh tế khu vực APEC.
Việt Nam đã chứng minh khả năng tổ chức APEC thành công các năm 2006 và 2017, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực và nâng cao vị thế quốc gia. Hoa Kỳ tin tưởng Việt Nam sẽ tiếp tục đảm nhiệm thành công vai trò chủ nhà APEC 2027, đồng thời cam kết tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ APEC trên cơ sở đồng thuận, với sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của tất cả các thành viên vào mọi sự kiện. Hoa Kỳ kỳ vọng năm chủ nhà APEC của Việt Nam sẽ là một năm có ý nghĩa và tác động sâu rộng.
Việt Nam cũng là một trong những thành viên tích cực nhất trong việc đề xuất các sáng kiến, dự án hợp tác, với gần 150 dự án. Nhiều sáng kiến do Việt Nam đề xuất được đánh giá thiết thực, đáp ứng quan tâm chung, nhất là về phát triển bền vững, bao trùm, phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số, thúc đẩy kinh tế số…
Việt Nam và cơ hội định hình tương lai khu vực
Năm 2027, Việt Nam sẽ một lần nữa trở thành tâm điểm của hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, khi đăng cai APEC. Đây không chỉ là cơ hội để Việt Nam đón các nhà lãnh đạo của 21 nền kinh tế, mà còn là dịp để đóng góp vào việc định hình chương trình nghị sự của khu vực. Bà Maria Solis - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Á của Brookings cho rằng trong bối cảnh APEC hướng tới một châu Á – Thái Bình Dương mở, năng động và tự cường, những nền kinh tế nhỏ nhưng năng động như Việt Nam có thể thúc đẩy những vấn đề thiết thực và thể hiện vai trò kiến tạo.
APEC ban đầu được hình thành với tinh thần rất thực tế: Xắn tay áo lên, cùng suy nghĩ sáng tạo về hội nhập kinh tế. Sau đó, APEC nâng cao đáng kể vị thế và tầm ảnh hưởng của mình khi hình thành Hội nghị Cấp cao các nhà lãnh đạo. Nhưng hiện nay, chúng ta có nguy cơ chứng kiến những cơ hội dành cho ngoại giao bị thu hẹp, đặc biệt khi các cuộc gặp song phương được ưu tiên quá mức. Và tôi nghĩ rằng những nền kinh tế như Việt Nam và Chile vẫn không muốn từ bỏ điều vốn là lý do cốt lõi khiến APEC được thành lập ngay từ đầu. Điều đó tạo cho họ một cơ hội để đóng vai trò trung tâm trong việc định hình các quy tắc, cấu trúc và những cơ chế kết nối. Mục tiêu là bảo đảm rằng những động lực của tăng trưởng kinh tế quốc tế không bị chững lại.