Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, trong khi nguồn khí trong nước có xu hướng suy giảm, LNG được xác định là một trong những nguồn bổ trợ quan trọng cho hệ thống năng lượng Việt Nam. Nội dung được tập trung thảo luận tại Hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách” do Ban chính sách, chiến lược Trung ương và Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam phối hợp tổ chức hôm nay (05/11/2026) tại Hà Nội.
Theo các chuyên gia, Quy hoạch điện VIII (điều chỉnh) đặt mục tiêu phát triển khoảng 22.524 MW nhiệt điện LNG đến năm 2030. Việt Nam bước đầu đã hình thành được những hạ tầng LNG đầu tiên, tiêu biểu là kho cảng LNG Thị Vải; Cụm nhà máy điện Nhơn Trạch với tổng công suất 1.624 MW đã được đưa vào vận hành thương mại từ đầu năm nay.
Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, xác định điện khí có vai trò bổ trợ rất quan trọng, bổ sung cho nguồn khí trong nước suy giảm, góp phần bảo đảm cung ứng điện, hỗ trợ vận hành linh hoạt khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng lên.
Thực tế cho thấy, chi phí nhiên liệu LNG chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành điện. Trong khi đó, các hợp đồng mua bán điện, cơ chế bao tiêu, chuyển giá LNG vào giá điện và khả năng thu xếp vốn dài hạn vẫn là những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn nhấn mạnh, bảo đảm cung ứng đủ năng lượng với chi phí hợp lý là yêu cầu quan trọng đối với phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới, Việt Nam cần đa dạng hóa nguồn cung, phát triển đồng bộ hạ tầng và nâng cao khả năng chống chịu trước những rủi ro gián đoạn nguồn cung.
Từ góc độ quản lý nhà nước, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn cho rằng, trước hết phải phát triển LNG trên cơ sở nhu cầu thực tế, tránh đầu tư dàn trải: “Thứ nhất, phát triển hạ tầng LNG phải gắn với quy hoạch nhu cầu tiêu thụ thực tế. Cần xác định quy mô, địa điểm và phân kỳ đầu tư phù hợp với tiến độ dùng điện và nhu cầu công nghiệp tại từng khu vực; phối hợp hiệu quả giữa nguồn khí trong nước và LNG nhập khẩu, tận dụng hạ tầng hiện có, hạn chế đầu tư dàn trải.”
Hội thảo tập trung thảo luận về vai trò và quy mô LNG trong cơ cấu năng lượng quốc gia; kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức và đầu tư hạ tầng (trung tâm phân phối LNG, hạ tầng dùng chung, kho nổi tái hóa khí FSRU); những giải pháp hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực cho toàn chuỗi.
Kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ tại Hội thảo đã gợi mở nhiều hàm ý chính sách cho Việt Nam về mô hình đầu tư, phương án tài chính cũng như kinh nghiệm triển khai kho cảng LNG trung tâm (LNG hub) và kho nổi tái hóa khí (FSRU). Thực tiễn vận hành FSRU tại nhiều thị trường trên thế giới như Bangladesh, Pakistan, Argentina, Brazil, Kuwait và UAE cho thấy hiệu quả linh hoạt trong giai đoạn đầu phát triển thị trường, đồng thời mở ra định hướng phát triển Việt Nam trở thành trung tâm phân phối LNG của khu vực ASEAN.
Bà Jennifer Wichs – Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhìn nhận: "Các dự án năng lượng, đặc biệt là các dự án LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) phục vụ phát triển nguồn điện, đòi hỏi các quy tắc có thể dự đoán được, cơ chế định giá minh bạch, các hợp đồng có thể vay vốn, và các quy trình cấp phép phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Nếu không có những yếu tố này, nguồn vốn không thể lưu chuyển theo quy mô hoặc tốc độ cần thiết. Các công ty Mỹ rất mong muốn đầu tư vào cung cấp năng lượng. Họ mang đến công nghệ đẳng cấp thế giới, chuyên môn vận hành phong phú và cam kết lâu dài đối với sự thành công của Việt Nam."
Theo các nghiên cứu và dự báo dài hạn, nhu cầu tiêu thụ LNG của Việt Nam dự kiến tăng mạnh từ khoảng 0,5 triệu tấn năm 2025 lên khoảng 17 triệu tấn vào năm 2050, trong đó khu vực miền Nam chiếm khoảng 65% tổng nhu cầu.
Hội thảo cũng thống nhất và nhận định rằng việc chuyển từ phát triển các dự án đơn lẻ sang kiến tạo chuỗi hạ tầng LNG đồng bộ vừa có ý nghĩa thời sự cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn hiện hữu, vừa là trọng tâm chiến lược nhằm củng cố an ninh năng lượng và sức chống chịu của nền kinh tế. Việt Nam cần “phát triển với quy mô phù hợp, đúng thời điểm, đúng mô hình và trên cơ sở hiệu quả tổng thể của nền kinh tế”, qua đó bảo đảm nguồn vốn đầu tư được chuyển hóa thành năng lực hạ tầng thực chất.
Đây cũng là hướng được Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Văn Phương nhấn mạnh khi tổng kết các ý kiến tại hội thảo: “Về mô hình hạ tầng, các ý kiến tập trung vào những nội dung liên quan đến trung tâm LNG đồng bộ, từ cảng tiếp nhận, kho chứa, vấn đề tái hóa khí, đường ống đến nhà máy điện, hộ tiêu thụ; hệ thống truyền tải; mô hình trung tâm dùng chung; các kho nổi lưu trữ, tái hóa khí. Các nội dung này đều có những ưu thế riêng. Việc lựa chọn phải dựa trên các luận chứng kinh tế, quy hoạch quốc gia và điều kiện cụ thể của từng vùng, từng dự án. Đây cũng là điều kiện để chúng ta có thể xem xét thu hẹp khoảng cách so với mục tiêu điện khí LNG đến năm 2030 của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh...”
Từ đa dạng hóa nguồn cung, quản trị rủi ro đến hoàn thiện thể chế, cơ chế thị trường, Lãnh đạo Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương nhấn mạnh, phát triển hạ tầng LNG đòi hỏi một cách tiếp cận đồng bộ, trong đó lợi ích hài hòa, rủi ro được chia sẻ giữa Nhà nước, nhà đầu tư, doanh nghiệp và người sử dụng. Mục tiêu là đưa Nghị quyết 70-NQ/TW vào cuộc sống bằng những dự án LNG có tính khả thi, vận hành an toàn, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và tạo nền tảng cho tăng trưởng của nền kinh tế./.
Nguyên Long
Bình luận