Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm, Việt Nam ghi nhận hơn 180.000 ca mắc mới và có 115.000 trường hợp tử vong do ung thư. Đặc biệt, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa, với tỉ lệ chẩn đoán ở người dưới 50 tuổi tăng 45% kể từ năm 1995. Trong số những căn bệnh ung thư phổ biến thì ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.
Thường xuyên hút thuốc lá, đến một ngày ông Đặng Văn Tình 57 tuổi ở phường Tương Mai, Hà Nội bị ho có đờm, đi khám, được chỉ định chụp X quang thấy vết mờ ở phổi. Sau khi uống thuốc kháng sinh thấy đỡ nhưng không khỏi dứt điểm, mấy tháng sau, ông Tình tái khám thì đã phát hiện ung thư phổi giai đoạn 3, hạch di căn thấy rõ ở cổ và kết quả chiếu chụp cho thấy tình trạng di căn ở trung thất. Mặc dù được gia đình hết lòng chạy chữa, truyền hóa chất và xạ trị nhưng cuộc sống của ông Tình cũng chỉ kéo dài được hơn 8 tháng.
Ung thư phổi thường tiến triển nhanh, đặc biệt ung thư phổi tế bào nhỏ lây lan nhanh hơn so với ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Trung bình, ung thư phổi tăng gấp đôi kích thước trong khoảng 4-5 tháng. Điều này khiến bệnh nhân dễ rơi vào giai đoạn cuối nếu chần chừ trong điều trị hoặc chủ quan không đi khám sàng lọc sớm.
Theo các chuyên gia y tế, khoảng 85% các trường hợp ung thư phổi là do hút thuốc. Tuy nhiên cũng có những trường hợp do yếu tố môi trường như ô nhiễm không khí, tiếp xúc với chất độc (ví dụ amiăng, radon) và thường xuyên hít phải khói thuốc thụ động.
Trong đó, khí radon- thủ phạm gây ung thư phổi là kẻ thù vô hình và không có mùi, nhưng lại xuất hiện tự nhiên ở ngoài trời. Nó đã được tìm thấy với số lượng tập trung bên trong một số ngôi nhà được xây dựng trên đất có chứa các mỏ uranium tự nhiên. Khí radon từ trong nền đất, đá có thể thoát ra và thâm nhập vào tòa nhà thông qua các vết nứt trên tường hay qua nền gạch bê tông. Còn với chất độc amiăng có trong vật liệu bị hư hỏng và xuống cấp trầm trọng, tạo ra bụi. Ngoài ra, amiăng và dầu diesel có nhiều trong các mỏ khai thác, những công nhân khai thác mỏ sẽ có nguy cơ cao mắc ung thư phổi.
Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường có thể gây ra những thay đổi trong ADN và từ đó đặt tiền đề gây bệnh. Khí thải ô nhiễm từ xe cộ, nhà máy công nghiệp, bếp củi và các nguồn khác chứa các hạt nhỏ có thể góp phần làm ô nhiễm không khí và gây ung thư phổi. Bụi, khói và hóa chất trong không khí gây ra khoảng 1 - 2% trong tổng số các ca mắc ung thư phổi.
Với khói thuốc thụ động, có nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một người nào đó chỉ cần ở trong phòng có người hút thuốc lá 1 giờ đồng hồ thì số hóa chất độc hại mà cơ thể tiếp nhận vào tương đương với việc hút 10 điếu thuốc/ngày. Khói thuốc sẽ gây ảnh hưởng trong phạm vi 7-10 m. Do đó ngay cả khi ở khá xa người hút thuốc thì người hút thụ động vẫn gặp những nguy cơ về sức khỏe, trong đó có nguy cơ mắc ung thư phổi, không kém những người đang hút thuốc.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân, Bệnh viện Bạch Mai, phát hiện sớm ung thư phổi có ý nghĩa rất quan trọng, vì trong giai đoạn sớm người bệnh có thể được điều trị triệt căn góp phần cải thiện hiệu quả và giảm chi phí điều trị, chăm sóc. Khi khối u nhỏ, sau phẫu thuật lấy u, nhiều trường hợp không phải điều trị bổ trợ (hóa trị, thuốc đích...).
Với các ca ung thư phổi tiến triển, nhiều ca bệnh đã được kiểm soát lâu dài, vì hiện có các thuốc, phương pháp điều trị mới, và các xét nghiệm chẩn đoán chính xác, giúp bác sĩ đưa ra phác đồ tối ưu. Nhưng để điều trị tốt nhất và giảm thấp nhất các chi phí cần sàng lọc phát hiện sớm ung thư phổi, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ cao. Đó là người trên 50 tuổi và có một trong các yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá, thuốc lào nhiều năm (từ 20 bao thuốc lá/1 năm); Tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm nghề nghiệp, sống trong môi trường nhiễm xạ; Tiền sử gia đình có người thân (thế hệ thứ nhất) mắc ung thư phổi; Người mắc bệnh phổi mạn tính và người thường xuyên hít phải khói thuốc lá một cách thụ động./.
Văn Hải/VOV1
Bình luận